11 April, 2012

Thảo luận Nợ công Nhật Bản

Chủ đề thảo luận:
NỢ CÔNG NHẬT BẢN
Nguyễn Thị Duyên –HVNH-K13
I- Tìm hiểu về nợ công
1.Khái niệm:
- Nợ chính phủ, còn gọi là Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay.
- Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
2. Phân loại:
Nợ chính phủ thường được phân loại như sau:
§                     Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước).
§                     Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10 năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm).
3. Các hình thức vay nợ của chính phủ

- Phát hành trái phiếu chính phủ:
Chính phủ có thể phát hành Trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân.  Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn.  Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán và ngoài ra còn có rủi ro về tỷ giá hối đoái.
- Vay trực tiếp
Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia (ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế)... Hình thức này thường được  Chính phủ  của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao.

4. Các vấn đề gặp phải khi tính toán nợ chính phủ

- Lạm phát

Chỉ tiêu thâm hụt ngân sách khi tính toán thường không điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát vì trong tính toán chi tiêu của Chính phủ, người ta tính toán các khoản trả lãi vay theo lãi suất danh nghĩa  trong khi đáng lẽ chỉ tiêu này chỉ nên tính theo lãi suất thực tế. Do lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát, nên thâm hụt ngân sách đã bị phóng đại. Trong những thời kỳ lạm phát ở mức cao và nợ chính phủ lớn thì ảnh hưởng của yếu tố này rất lớn.

- Tài sản đầu tư

Nhiều nhà kinh tế cho rằng tính toán nợ chính phủ cần phải trừ đi tổng giá trị của tài sản chính phủ. Điều này cũng đơn giản như khi xử lý tài sản của cá nhân: khi một cá nhân vay tiền để mua nhà thì không thể tính anh ta đã thâm hụt ngân sách bằng số tiền đã vay mà phải trừ đi giá trị của căn nhà. Tuy nhiên khi tính toán theo phương pháp này lại gặp phải vấn đề những gì nên coi là tài sản của chính phủ và tính toán giá trị của chúng như thế nào, ví dụ: đường quốc lộ, kho vũ khí hay chi tiêu cho giáo dục...

- Các khoản nợ tiềm tàng

Nhiều nhà kinh tế lập luận rằng tính toán nợ chính phủ đã bỏ qua các khoản nợ tiềm tàng như tiền trợ cấp hưu trí, các khoảnbảo hiểm xã hội mà chính phủ sẽ phải chi trả cho người lao động hay các khoản mà chính phủ sẽ phải chi trả khi đứng ra bảo đảm cho các khoản vay của người có thu nhập thấp mà trong tương lai họ không có khả năng thanh toán... 1565
5. Tác động của nợ chính phủ

- Về tính trung lập của nợ chính phủ

Có hai quan điểm chính về việc nợ chính phủ có tác động đến nền kinh tế hay không.
+ Quan điểm truyền thống cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chính phủ kích thích tiêu dùng và làm giảm tiết kiệm quốc dân. Sự gia tăng tiêu dùng làm tăng tổng cầu và thu nhập quốc dân trong ngắn hạn nhưng dẫn đến khối lượng tư bản ít hơn (do đầu tư giảm) và thu nhập quốc dân thấp hơn trong dài hạn.
+ Quan điểm Barro-Ricardo lại cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chính phủ không kích thích chi tiêu ngay cả trong ngắn hạn vì không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà nó chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai. Các cá nhân dự tính rằng, hiện giờ chính phủ giảm thuế và phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt, thì đến một thời điểm trong tương lai chính phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợ hoặc in tiền để trả nợ (mà hậu quả là lạm phát tăng tốc); do đó, người ta tiết kiệm hiện tại để có tiền đóng thuế trong tương lai hoặc mua hàng hóa và dịch vụ sẽ lên giá.
Hai quan điểm nói trên tuy khác nhau nhưng cùng xuất phát từ hành vi của người tiêu dùng và do vậy khi áp dụng cần nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng.

- Về hiệu suất của tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng kinh tế

Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:
§         Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút.
§         Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu chính phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư.
§         Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là một tổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.
      Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên).
§         Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái phiếu chính phủ. Phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, thể hiện qua việc chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua. Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh tế cũng tăng. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư nhân, khiến họ giảm đầu tư. Nó còn tác động tích cực đến động cơ tiết kiệm của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng. Nó còn làm cho lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vào trong nước khiến cho tỷ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu ròng. Tóm lại, phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu.
§         Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ tài sản thì khi chính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất, người nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn. Tổng cầu nhận được tác động tích cực từ việc tăng chi tiêu chính phủ (nhờ phát hành công trái) và tăng tiêu dùng nói trên. Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn tới tăng lượng cầu tiền. Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát).

II- Nợ công Nhật Bản

1.Thực trạng nợ công ở Nhật Bản

Thăm đất nước mặt trời mọc, người ta không thể phát hiện bất cứ dấu hiệu nào cho thấy nơi đây sắp rơi vào khủng hoảng. Lợi tức trái phiếu chính phủ vẫn ở mức thấp, thu nhập bình quân đầu người lại cao chót vót.

Nhưng thực tế, các chính trị gia, các nhà lập pháp Nhật Bản đang tranh cãi gay gắt và âm thầm tìm ra giải pháp thoát khỏi nguy cơ vỡ nợ công.
Trong nhiều năm liền giới quan sát từng đưa ra nhiều cảnh báo đáng lo ngại về sự tăng trưởng trì trệ và nợ công chồng chất của Nhật – nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trước thời điểm kinh tế toàn cầu trượt vào suy thoái giai đoạn năm 2008 – 2009, suốt 2 thập niên Nhật phải lặn ngụp trong giảm phát. Nhưng bóng ma thiểu phát đã bị che lấp bởi hình ảnh một nền kinh tế tăng trưởng ổn định, mức sống người dân khá cao, lợi suất trái phiếu chính phủ thấp cho thấy rủi ro vỡ nợ công thấp.
Cơn bạo bệnh của Nhật chỉ thực sự bộc phát khi kinh tế toàn cầu chìm sâu vào cuộc khủng hoảng tài chính.
Tính đến cuối năm tài khóa 2009 (kết thúc ngày 31/3/2010), nợ công của Nhật Bản ở mức cao kỷ lục, 882.920 tỷ Yên, tăng 36.430 tỷ Yên so với năm tài khóa trước. Với mức cao như vậy, hiện Nhật Bản là nước “nặng gánh” nhất trong khu vực các nước công nghiệp phát triển.
Số liệu thống kê mới nhất mà Bộ Tài chính Nhật Bản công bố cho thấy, tính đến thời điểm kết thúc tài khóa 2010 (ngày 31/3 vừa qua), nợ công của Nhật Bản đã đạt mức cao kỷ lục 924.000 tỷ Yên (hơn 11,5 tỷ USD). Như vậy, Nợ bình quân đầu người tại Nhật lên tới 7,22 triệu Yên (gần 90.000 USD). Đây là một kỷ lục mới về nợ quốc gia của Nhật Bản. Tốc độ tăng nợ công lên tới 41.000 tỷ Yên trong 1 năm.
Bộ Tài chính báo cáo rằng, trong các khoản nợ quốc gia, trái phiếu Chính phủ chiếm khoảng từ 5.690-7.580 tỷ Yên, các chứng khoán ngắn hạn chiếm khoảng 7.847 tỷ Yên.
Bộ Tài chính Nhật Bản chỉ ra rằng, hoạt động tái thiết sau động đất sẽ cần một số tiền lớn, và đến cuối năm nay, tổng nợ quốc gia dự kiến lên tới hơn 1 triệu tỷ Yên (hơn 12.000 tỷ USD.
Trong năm 2010, tổng nợ công của Nhật Bản gần đến mức 200% GDP, tỷ lệ cao nhất trong các nước công nghiệp phát triển.
Những lo ngại sâu sắc về tình trạng nợ công chồng chất đã gõ cửa Nhật Bản vào ngày 26/1, khi hãng định mức tín nhiệm Standard & Poor’s (S&P) cắt giảm một bậc điểm tín nhiệm đối với trái phiếu chính phủ của nước này
Theo báo cáo tín nhiệm nợ công của S&P vừa công bố, xếp hạng nợ quốc gia dài hạn của Tokyo bị giảm 1 bậc, xuống còn AA-. Một trong những nguyên nhân của việc đánh tụt điểm tín nhiệm nợ này, theo S&P là do các nhà lãnh đạo của Nhật không có chiến lược rõ ràng trong việc giải quyết những thách thức ngày càng lớn về tài khóa.
Đây là lần đầu tiên Nhật Bản bị cắt giảm điểm tín nhiệm nợ công kể từ tháng 4/2002 tới nay. Với điểm số hiện nay, nợ công của Nhật đang được đánh giá ngang bằng về độ tín nhiệm với nợ công của Trung Quốc - nước mới đây đã vượt Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.
“Việc cắt giảm điểm tín nhiệm nợ công của Nhật Bản phản ánh quan điểm của chúng tôi rằng, tỷ lệ nợ công của Nhật - vốn đã ở mức cao nhất trong số các quốc gia được đánh giá - sẽ còn tăng nhanh hơn so với những gì chúng tôi đã dự báo trước khi suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến nước này, và sẽ chỉ đạt đỉnh vào giữa thập niên 2020”, tờ Wall Street Journal dẫn báo cáo của S&P.


2. Nguyên nhân

Ba nhân tố có thể châm ngòi khủng hoảng nợ công tại Nhật là trái phiếu chính phủ, giảm phát và xuất khẩu tăng trưởng ì ạch cả khi kinh tế toàn cầu phục hồi.

- Việc phát hành trái phiếu chính phủ tại Nhật cho tới nay chủ yếu hướng tới người mua là dân chúng trong nước, nhưng người dân càng ngày càng có xu hướng giảm tiết kiệm. Theo tính toán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), ngay cả khi tỷ lệ tiết kiệm duy trì như mức hiện nay, thì nợ công vẫn tiếp tục tăng và tới năm 2015 có thể vượt xa tổng tài sản của các hộ gia đình. Khi đó, Nhật sẽ phải huy động vốn từ nước ngoài với chi phí cao hơn. Thậm chí Goldman Sachs cho biết một số nhà đầu tư nước ngoài đã lên kế hoạch sẵn sàng khi khủng hoảng nợ công Nhật Bản xảy ra.

Trong thời kỳ kinh tế “bong bóng” những năm 1986 – 1990, cũng như nhiều đơn vị nắm số lượng lớn trái phiếu chính phủ, Ngân hàng Bưu điện Nhật (JPB) đã có mức thặng dư tài chính khổng lồ. Khi nền kinh tế “bong bóng” tạo đỉnh vào đầu những năm 90, Nhật Bản bắt đầu trượt dài vào khủng hoảng trong nhiều năm sau đó. Kinh tế tăng trưởng ì ạch, nhiều người nắm giữ trái phiếu, đất đai, cổ phiếu lâm vào cảnh khốn đốn khi mà lợi suất thu về thấp hơn nhiều so với lúc đỉnh điểm bong bóng.

Để bảo vệ thị trường trái phiếu, kể từ 1995, Nhật đã để cho đồng yen tăng giá nhằm khuyến khích người dân quay trở lại mua trái phiếu chính phủ. Nhưng điều này buộc Nhật phải chấp nhận hệ quả là sự đình trệ trong tăng trưởng xuất khẩu, do hàng hóa Nhật trở nên kém cạnh tranh hơn so với các nước khác, đặc biệt là Mỹ. Mục tiêu bình ổn thị trường trái phiếu có thể là một trong những lý do lý giải thích tại sao chính quyền Nhật tỏ ra kém tập trung đấu tranh chống giảm phát nền kinh tế. Họ lo sợ hậu quả ngoài ý muốn lên thị trường trái phiếu nếu như giá tiêu dùng tăng cao.

Cuối năm 2008, người Nhật nắm giữ tới 94% trái phiếu chính phủ Nhật. Hơn một nửa tài sản tài chính trị giá 1.400 nghìn tỷ yen của đất nước Phù Tang được tích trữ dưới dạng tiền mặt và gửi ngân hàng (tỷ lệ này ở Mỹ chỉ là 14%). Trong đó, phần lớn được đem đầu tư vào trái phiếu chính phủ thông qua hệ thống ngân hàng.

- Thiểu phát là vấn đề thứ hai cần giải quyết cấp bách tại Nhật hiện nay. Tình trạng giá cả hàng hóa sụt giảm giúp Nhật bán trái phiếu với mệnh giá cao hơn, nhưng lại gây ra giảm phát và đẩy tỷ lệ nợ công trên GDP tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng tại Nhật được hầu hết các chuyên gia kinh tế tin rằng còn tiếp tục giảm hơn nữa trong vòng 5 năm tới.
Mặc dù nhận thấy rủi ro giảm phát kinh tế kéo dài sẽ làm tổn hại tới tăng trưởng kinh tế và chi tiêu, nhưng giới chức Ngân hàng Trung ương Nhật (BoJ) không cho rằng nguyên do nằm ở chính sách tiền tệ, thay vào đó đổ lỗi cho năng suất sản xuất thấp, kéo mức lương tại Nhật thấp và đặt áp lực lên nhu cầu chi tiêu hàng hóa và dịch vụ, đồng thời làm tăng nợ công.

Trước đây, Nhật từng mắc bẫy thanh khoản khi tăng gấp đôi lượng cung tiền nhằm cứu nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái do bong bóng bất động sản vỡ đầu thập niên 1990. Đây có thể là bài học kinh nghiệm đáng nhớ mà Nhật biện minh cho quan điểm giảm phát không phải do vấn đề tiền tệ. Thực tế là do sai lầm của BoJ với chủ trương nới lỏng chính sách tiền tệ bằng cách giảm lãi suất nhiều lần và cuối cùng thực hiện “chính sách lãi suất zero”, đã khiến người dân Nhật chuộng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn là đầu tư vào trái phiếu hay chứng khoán. Hệ quả là ngân hàng thiếu tiền mặt và không thể cho vay đối với tư nhân, làm cho hoạt động đầu tư tư nhân của Nhật trì trệ trong nhiều năm. Đây chính là nguyên nhân mấu chốt đã kìm hãm tăng trưởng kinh tế Nhật Bản và khiến chính sách tiền tệ trở nên bất lực.

Động thái tăng cung các khoản vay khẩn cấp với thời hạn 3 tháng bằng cách bơm 10 nghìn yên vào hệ thống ngân hàng trong tháng 3 vừa qua, có thể sẽ để lại bài học mang ý nghĩa khác cho BoJ trong nỗ lực hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng và kích thích hồi phục nền kinh tế.

- Lý do cuối cùng buộc chặt Nhật vào vũng lầy khủng hoảng là tăng trưởng sau suy thoái vẫn trì trệ, ngay cả khi kinh tế toàn cầu phục hồi. Sự cải thiện trong nhu cầu nước ngoài vẫn không đủ để Nhật lấy lại mức tăng trưởng xuất khẩu ổn định như trước đây.
Trong tương quan so sánh hoạt động sản xuất giữa Nhật và Trung Quốc, có thể ví Trung Quốc như một phân xưởng sản xuất miệt mài của thế giới, còn Nhật Bản chỉ là một phòng thí nghiệm hiện đại mới toanh và là sân sau của phân xưởng sản xuất Trung Quốc. Kể từ khi Trung Quốc leo lên vị thế quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới vào năm ngoái và sau đó dẫn đầu phục hồi kinh tế toàn cầu, nhu cầu hàng hóa từ Nhật tới Trung Quốc tăng trưởng mạnh mẽ. Không phải là camera kỹ thuật số hay các thiết bị công nghệ cao, xuất khẩu của Nhật vào Trung Quốc tăng đáng kể với hàng loạt các sản phẩm như chất dẻo (tăng 150% trong hai tháng đầu năm), hàng hóa làm từ khoáng sản phi kim (tăng 113%), máy xây dựng (tăng 152%), máy dệt (tăng 171%), các bộ phận xe (tăng 144%) và dụng cụ khoa học (tăng 133%).

Ngân hàng JPMorgan tính toán mức tăng trưởng xuất khẩu của Nhật trong suốt 9 tháng qua đạt 3,1%, chủ yếu nhờ vào sự gia tăng nhu cầu từ Mỹ và châu Âu. Mới đây JPMorgan đã cũng nâng dự báo tăng trưởng GDP quý một của Nhật từ 1,8% lên 3,5%. Tuy nhiên JPMorgan nhấn mạnh sự cải thiện này chưa đủ khi mà suốt 12 tháng trước đó GDP của Nhật ở mức âm.

Nếu như chính phủ Nhật không tìm được biện pháp kích thích tăng trưởng kinh tế hiệu quả, thì nguồn thu ngân sách từ thuế sẽ không đủ để bù đắp thâm hụt nợ công. Báo cáo ngân sách 2010 được cập nhật bổ sung vào ngày 1/4 cho thấy nợ công lần đầu tiên đã lên tới con số 44 nghìn tỷ yen (468 tỷ USD) và cũng là lần đầu tiên vượt nguồn thu từ thuế (37 nghìn tỷ yen).

Bối cảnh giảm phát kéo dài, kinh tế trì trệ và tỷ lệ nợ công trên GDP cao có thể khiến Nhật rơi vào “vết xe đổ” của Hy Lạp và rơi vào cuộc khủng hoảng nợ công không lối thoát. Điểm khác biệt tích cực duy nhất hiện nay mà giới chức chính phủ Nhật có thể vin vào là lợi tức trái phiếu Nhật chỉ chạm mức cao nhất là 1,4%, trong khi đó Hy Lạp đã tiến cận ngưỡng 8%, cho thấy Nhật vẫn có thể đảo ngược tình thế để tránh nguy cơ vỡ nợ.

- Bên cạnh những giới hạn về phương diện kinh tế, Nhật Bản còn đang gặp một trở ngại không nhỏ đó là vấn đề ổn định trong ban lãnh đạo ở thượng tầng nhà nước. Trong 4 năm vừa qua, Nhật Bản đã 6 lần thay đổi thủ tướng. 2010 là năm đầy sóng gió với chính trường Nhật Bản. Đảng Tự do dân chủ (LDP) đã nắm quyền gần như liên tục trong hơn 50 năm nay đã bị đảng Dân chủ (DPJ) giành lấy chính quyền. Tuy nhiên, trong quá trình điều hành, đảng DPJ lại gần như đạp lên vết xe đổ của LDP.
Thủ tướng Hatoyama trước đây đã bị áp lực rất nhiều vì những phát biểu thất thố cũng như không vận hành nổi đường lối đã đưa ra. Do vậy chỉ sau 9 tháng cầm quyền, ông Hatoyama đã phải từ chức Thủ tướng. Sau đó ông Naoto Kan lên thay thế. Nhưng trong nội bộ đảng, Thủ tướng Kan lại có những mâu thuẫn với ông Ichiro Ozawa, cựu Chủ tịch đảng DPJ.
Về đối ngoại, khu vực Đông Bắc Á trong năm qua đã xảy ra nhiều tranh chấp và biến động. Vị thế của Nhật Bản hiện rơi vào tình thế phức tạp. Trước tình hình chính trị và quân sự tại khu vực, Nhật Bản vẫn phải dựa vào đồng minh thân cận là Mỹ. Nhưng quan hệ của Nhật với Mỹ trong năm qua đã gặp nhiều rắc rối liên quan tới việc di dời căn cứ quân sự trên đảo Okinawa.
Hồ sơ này đã được hai bên bàn thảo trong 12 năm để đi đến quyết định là dời lên khu vực đông bắc cũng của Okinawa. Nhưng đảng DPJ khi ra tranh cử nói rằng sẽ dời căn cứ quân sự của Mỹ ra khỏi Okinawa hoặc ra khỏi Nhật Bản. Vấn đề là ra khỏi nước Nhật thì không biết đi đâu, và dời ra khỏi Okinawa thì không nơi nào nhận. Thành ra chương trình nghiên cứu bấy lâu nay của Nhật bị bỏ lửng, không cách nào giải quyết được.
Có thể nói trong năm 2010, Nhật Bản khá vất vả trong đối ngoại, kể cả với đồng minh quen thuộc là Mỹ và Hàn Quốc, và với Trung Quốc là vụ tranh chấp hải đảo trong suốt mấy tháng gần đây.
3. Một số biện pháp giảm khủng hoảng nợ công được IMF đưa ra:
"Sự cần thiết phải điều chỉnh tài chính sớm đã trở nên cấp thiết ở Nhật Bản”, Cố vấn cao cấp của IMF, James Gordon, phát biểu sau cuộc hội đàm với các quan chức Nhật Bản. Theo ông, các biện pháp nên bao gồm việc tăng dần thuế tiêu dùng từ mức 5% hiện nay.

Trước đó, trong báo cáo Ổn định tài chính toàn cầu công bố ngày 20/4, IMF đã cảnh báo, mặc dù những nguy cơ đối với sự ổn định tài chính toàn cầu đã giảm bớt do tác động từ quá trình hồi phục kinh tế, nhưng lo lắng về rủi ro nợ ở các nước phát triển có thể hủy hoại những cải thiện về ổn định và kéo dài giai đoạn sụp đổ tài chính.

Báo cáo này đề xuất với 4 biện pháp chính sách bao gồm:
-         Xử lý thận trọng thâm hụt ngân sách nhằm tránh đẩy cuộc khủng hoảng sang giai đoạn mới.
-         Thực hiện tốt chiến lược thoát khủng hoảng, đảm bảo tạo ra một hệ thống tài chính lành mạnh và có quy mô thích hợp để có thể cung cấp nguồn tín dụng cho khu vực tư nhân.
-         Triển khai các công cụ tài chính để xử lý hiểm họa từ các nguồn vốn đầu tư mạnh.
-         Thúc đẩy cải tổ quy chế, cải thiện thị trường vốn, tăng cường xử lý rủi ro, giảm chi phí cứu trợ các thể chế tài chính.




Đề tài 4 "Phân tích vai trò điều tiết các hoạt động kinh tế của TC công. Chứng minh bằng thực tế Việt Nam"

VAI TRÒ ĐIỀU TIẾT CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA
TÀI CHÍNH CÔNG

A- Tìm hiểu chung
1.Khái niệm
- Xét về mặt hình thức, tài chính công là các hoạt động thu, chi tiền tệ của nhà nước gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu thực hiện chức năng của nhà nước trong việc cung cấp hàng hoá công cho xã hội.
 - Xét về mặt thực chất: tài chính công phản ánh các quan hệ kinh tế trong phân phối nguồn tài chính quốc gia phát sinh giữa các cơ quan công quyền của nhà nước với các chủ thể khác trong nền kinh tế nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cho xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận.

2.Vai trò của tài chính công
-          Đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước
-          Điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế xã hội
B - Vai trò điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế của tài chính công:
1.Tài chính công có vai trò thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững.

Với chức năng phân bổ nguồn lực tài chính thong qua quá trình tạo lập và sử dụng quỹ công, tài chính công tác động đến việc phân bổ và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính trong toàn bộ nền kinh tế. Cụ thể thông qua các hoạt động như:

Thông qua các khoản chi đầu tư từ quỹ tài chính công và ưu đãi thuế để thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế mới, hợp lý hơn, qua đó phát huy các nguồn lực trong XH một cách có hiệu quả.

- Công cụ chi tiêu tài chính công
+ Với việc dùng quỹ TC công để đầu tư vào cơ sở hạ tầng KT-XH như giao thông, điện nước, thủy lợi…Đây là những lĩnh vực rất cần cho sự phát triển kinh tế xh nhưng tư nhân k muốn đầu tư (do tỉ suất lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn chậm) hoặc không đủ khả năng (về vốn và trình độ…) để đầu tư.
Ví dụ : Nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi) là công trình trọng điểm quốc gia, nhằm hình thành ngành công nghiệp lọc hóa dầu của Việt Nam, tạo điều kiện cho phát triển nhanh các ngành công nghiệp, dịch vụ liên quan. Công trình còn góp phần thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của miền Trung, từng bước tạo ra sự phát triển kinh tế cân đối giữa các vùng, miền trong cả nước. Điều này đáp ứng mục tiêu vừa phát triển kinh tế vừa ổn định xã hội của Chính phủ. Hơn nữa, Công trình trọng điểm quốc gia về dầu khí này cho phép chúng ta chế biến và gia tăng giá trị dầu thô khai thác trong nước, hạn chế nhập siêu và giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp xăng dầu từ nước ngoài, đảm bảo từng bước về an ninh năng lượng. Năm 2010, tính từ khi bàn giao, NMLD Dung Quất đạt doanh thu 60.000 tỷ đồng, nộp ngân sách 10.000 tỷ đồng, sản phẩm đáp ứng 30% nhu cầu xăng dầu của cả nước.
Hay cụm công trình công nghiệp khí-điện-đạm Cà Mau có tổng giá trị hơn 1,2 tỷ USD cung cấp điện năng cho đất nước. Đây là công trình trọng điểm có ý nghĩa cả về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng.

+ Đầu tư vào các ngành then chốt, các công trình mũi nhọn, hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong các trương hợp cần thiết (trợ giá, trợ cấp)..TC công góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, hình thành và hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.
Liên hệ VN:
·         Chính phủ Việt Nam đang tiến tới thực hiện Nghị định 109 nghiêm ngặt hơn nhằm giảm 30% lượng nhà xuất khẩu gạo, từ 150 xuống còn khoảng 100 nhằm mục tiêu hỗ trợ giá gạo.Nghị định 109 được đưa ra nhằm nâng cao tiêu chuẩn của các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam để cải thiện chất lượng và giá trị gạo Việt xuất khẩu.

Các hình thức trợ cấp xuất khẩu đối với một số mặt hàng của Việt Nam

·               Đối với sản phẩm gạo: Hỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu hoạch, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, hỗ trợ lãi suất xuất khẩu gạo trả chậm, bù lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, thưởng xuất khẩu.

·               Đối với mặt hàng cà phê: Hoàn phụ thu, bù lỗ cho tạm trữ cà phê xuất khẩu, bù lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, hỗ trợ lãi suất tạm  trữ, thưởng xuất khẩu.
·               Đối với rau quả hộp: Hỗ trợ xuất khẩu cho dưa chuột, dứa hộp, thưởng xuất khẩu.
·               Đối với thịt lợn: Hỗ trợ lãi suất mua thịt lơn, bù lỗ xuất khẩu thịt lợn, thưởng xuất khẩu.

- Công cụ thuế với các mức thuế suát và ưu đãi khác nhau:

+ Thực hiện những ưu đãi về tín dụng hoặc thuế nhằm khuyến khích phát triển những ngành nghề hoặc vùng cần phát triển. VD các ngành kinh tế mới (CN sinh học, công nghệ tin học), các ngành trọng điểm (sản xuất hàng xuất khẩu), các vùng kinh tế ở vùng sâu, vùng xa cần hỗ trợ phát triển để đảm bảo đời sống ND ở đó.

Liên hệ VN:
·         Xe  đạp, quạt  điện:  Ưu  đãi về tín dụng, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế xuất khẩu, miễn thuế nhập khẩu linh kiện, phụ tùng, vật tư, thiết bị lẻ, hỗ trợ lãi suất vay vốn ngân hàng.
·         Đường: Hỗ trợ giá, hỗ trợ giống mía, giảm thuế VAT 50%, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bù chênh lệch tỷ giá, hỗ trợ lãi suất thu mua mía trong vụ thu hoạch, hỗ trợ phát triển vùng mía nguyên liệu.
·         Sản phẩm phần mềm: Ưu đãi về thuế suất thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, miễn thuế xuất khẩu, miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu, ưu đãi về tín dụng, ưu đãi về sử dụng đất và thuê đất
·         Sản phẩm, phụ tùng xe hai bánh gắn máy: Thuế suất nhập khẩu ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hoá.
·         Hỗ trợ bằng tín dụng giúp  cho nhà sản xuất có đủ điều kiện  tài chính để mua hàng hoá phục vụ sản xuất xuất khẩu.
·         Sản phẩm cơ khí: Ưu đãi vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
·         Sản phẩm dệt may: Vốn tín dụng  ưu  đãi,  ưu  đãi  đầu tư, bảo lãnh của Chính phủ, cấp lại tiền sử dụng vốn để tái đầu tư, hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại
·         Tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong dưới 30 CV, máy thu hình màu, máy vi tính: Miễn thuế nhập khẩu,  ưu  đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, giảm tiền thuê đất


+ Thông qua việc áp dụng thuế suất cao đối với những mặt hàng xa xỉ có tác dụng định hướng tiêu dung nhằm tiết kiệm nguồn vốn có hạn của xã hội, để dành cho phát triển kinh tế.

Liên hệ VN:

BIỂU THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
STT
Hàng hoá, dịch vụ
Thuế suất (%)
I
Hàng hoá

1
Thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá
65
2
Rượu


a) Rượu từ 20 độ trở lên


Từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012
45

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2013
50

b) Rượu dưới 20 độ
25
3
Bia


Từ  ngày 01 tháng 01 năm 2010 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012
45

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2013
50
4
Tàu bay
30
5
Du thuyền
30
6
Xăng các loại, nap-ta, chế phẩm tái hợp và các chế phẩm khác để pha chế xăng
10
7
Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống
10
8
Bài lá
40
9
Vàng mã, hàng mã
70

- Việc đánh thuế cao đối với oto – sản phẩm cao cấp nhà nước nhằm giảm tăng khoản thu cho NSNN và bảo hộ nền sx trong nước.
+ Khi nền kinh tế suy thoái, nhà nước có thể tăng chi ngân sách cho đầu tư, cắt giảm thuế nhằm kích cầu, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi sớm.

2.TC công có vai trò quan trọng trong việc ổn định nên kinh tế vĩ mô

    Tài chính công có vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế vĩ mô: đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý và bền vững, duy trì việc sử dụng lao động ở tỷ lệ cao, hạn chế sự tăng giá đột ngột, đồng loạt và kéo dài…

Vai trò này của TC công được thể hiện qua các hành động như:
-           Lập quỹ dự trữ nhà nước về hàng hoá, vật tư thiết yếu, các quỹ dự phòng tài chính (kể cả bằng vàng và ngoại tệ) để ổn định kinh tế xã hội khi có sự biến động do thiên tai, tai hoạ lớn mà Nhà nước cần can thiệp.

Năm 2004 là một ví dụ cho vấn đề này trong bối cảnh kinh tế - XH luôn có nhiều biến động khác thường, dịch cúm gia cầm diễn ra trên diện rộng, hạn hán lớn ở hai miền Nam Bắc, thị trường nguyên liệu biến động mạnh, giá cả hàng hóa, vật tư (xăng, dầu, sắt thép…) gia tăng khôn lường. Những biến động đó cần có sự can thiệp của Nhà nước, NN đã sử dũng quỹ TC công để chi bù lỗ xăng dầu NK(5700 tỷ đồng). bố trí ngân sách cho cải cách tiền lương(7000 tỷ đồng), chi xử lý nợ tồ đọng trong xây dựng cơ bản

- Bình ổn giá cả hàng hoá để ổn định thị trường. Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng, mang tính chất chiến lược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia
Ví dụ:
·   Bộ Công Thương ban hành văn bản số 3705/BCT-CNNg triển khai thực hiện các biện pháp bình ổn giá cả mặt hàng thép, góp phần kiềm chế lạm phát trong năm 2010.

·   Bình ổn giá xăng trong cuối năm 2010 để tránh việc giá cả các mặt hàng khác tăng nhanh trong dịp tết, tranh nguy cơ lạm phát trong đầu năm 2011.

·   Chẳng hạn trong trương hợp ổn định giá cả,khi giá cả của một loại hàng hóa chiến lược nào đó tăng mạnh và đột biến làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dung và nguy cơ đẩy giá của các hàng hóa khác lên cao chính phủ có thể sử dụng biện pháp xuất dự trữ quốc gia, giảm thuế nhập khảu, tăng thuế xuất khẩu nhằm bình ổn giá.

  Còn khi giá hàng hóa đó giảm mạnh làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sản xuất, dẫn đến tình trạng di chuyển vốn ồ ạt sang các lĩnh vực khác-ảnh hưởng đến quan hệ cân đối của nền kinh tế chính phủ sử dụng nguồn dự trữ tài chính để mua các hàng hóa đó ở một mức giá nhất định.

- Lập quỹ dự trữ ngoại tệ để ổn định tỷ giá.
Trong năm 2010, khi TGHĐ biến động theo chiều hướng không thuận, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện nhiều giải pháp như: nới rộng biên độ +/-5% (3/2009); hạ biên độ xuống +/- 3% (2/2010), đồng thời với việc điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng 3,36% ; 4/2010 NHNN yêu cầu các Tổng công ty, Tập đoàn có thu ngoại tệ phải bán cho ngân hàng và kiểm kiểm soát chặt chẽ các giao dịch mua bán ngoại tệ tại các địa điểm mua bán ngoại tệ. Gần đây nhất vào ngày 18/8/2010, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng lên hơn 2% (từ 18.544VND/USD lên 18.932 VND/USD) và giữa nguyên biên độ. Với những giải pháp này, thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã từng bước bình ổn, tỷ giá chính thức so với tỷ giá trên thị trường tự do được thu hẹp, từng bước lành mạnh hóa các giao dịch vốn trong xã hội.

- Sử dụng các chính sách tài khoá thắt chặt hoặc mở rộng nhằm điều tiết kinh tế vĩ mô (giảm nhiệt nền kinh tế, chống lạm phát, phục hồi tổng cầu).

CP sử dụng quỹ tài chính nhằm khống chế lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc thực hiện CS thắt chặt ngân sách, tức là cắt giảm các khoản chi, chống tình trạng bao cấp, lãng phí trong chi tiêu. Tăng tỷ trọng các khoản chi đầu tư, đổi mới hệ thống thuế, đảm bảo mực động viên hợp lý và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển…Bên cạnh đó chính phủ có thể phát hành công cụ nợ, vay nhân dân để bù đắp thiếu hụt NSNN, góp phần to lớn vào việc giảm tốc độ lạm phát trong nền kinh tế mở.
Ở VN từ 1992 NN đã chấm dứt việc phát hành tiền bù đắp bội chi NSNN, chuyển sang hình thức vay nợ từ dân(52%) và vay nợ nước ngoài (48%) đến năm 1992 tỷ lệ tương ứng là 71% và 29%.

Liên hệ Việt Nam


            Trong cuộc đại suy thoái 2008-2009 đã làm cho tình hình kinh tế thế giới xám xịt trong sự tăng trưởng âm nhà nước đã đưa ra gói kích cầu đầu tư, tiêu dung, ngăn chặn suy giảm kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội lên tới 8 tỷ USD để đảm  sự ổn định về kinh tế. trong tình hình đó, ta thấy rõ đc tác dụng của tcc thông qua các chính sách tài khóa mở.
 Ngày 20-6-2008, Thủ  tướng Chính phủ quyết  định giao Bộ Tài chính trích 440 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2008 để mua 70.000 tấn lương thực tăng dự trữ quốc gia nhằm ổn định giá vì khi vào vụ mùa, tăng lượng lương thực nhưng làm cho giá bán xuống thấp vì cung tăng mạnh, chính phủ tung tiền ra mua với mức giá hợp lý để đảm bảo dự trữ và giá không rớt xuống nữa.Qua đó, ta thấy đc chi tài chính công góp 1 phần hok nhỏ vào việc phát triển và ổn định nền kinh tế.
Thêm vào đó, nn còn chi cho đâu tư xây dựng cơ bản khuyến khích các ngành kinh tế khác phát triển theo như xây dựng cầu đường ,chi cho tiêu dùng….Năm 2009, nn khuyến khích tiêu dùng hàng nội với khẩu hiệu : “Người Việt Nam tiêu dung hàng Việt Nam”

3. Hạn chế  TC  công việt nam trong vai trò điều tiết vĩ mô hiện nay

Tài chính công tại VN chưa thực sự phát huy hết vai trò của nó trong nền kinh tế xã hội do

VẤN ĐỀ CỦA CHI TIÊU CÔNG
·         Chi tiêu công ở Việt Nam được quản trị theo phong cách truyền thống, rất chính tắc nhưng ít năng động và khá hình thức. Cách làm này đang trở nên lỗi thời, trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới với cả quyền lợi lẫn nghĩa vụ đầy đủ của một thành viên; do đó, cần phải được đổi mới.
·         Quản trị chi tiêu công ở Việt Nam trong thời gian qua đã bộc lộ những tồn tại yếu kém rất cơ bản, xét theo những tiêu chí quản trị khu vực công hiện đại, phổ biến trên thế giới như tính công khai minh bạch chưa cao, trách nhiệm giải trình còn hạn chế, hiệu quả kinh tế - xã hội chưa đạt như mong muốn và đặc biệt chưa có sự tham gia đáng kể của người chủ đích thực của đồng tiền ngân sách là nhân dân. Đó chính là căn nguyên của tình trạng “có vấn đề” của hoạt động ngân sách Nhà nước: lãng phí, thất thoát tài sản Nhà nước, tham nhũng… Tình trạng này, như các báo cáo kiểm toán thường niên cho thấy, trên nhiều mặt là đáng lo ngại. 
·         Cách phân bổ vốn đầu tư ngân sách thời gian qua còn theo kiểu bao cấp - chia đều, vẫn mang khá nặng dấu ấn của cơ chế xin cho, việc chi tiêu ngân sách chưa thực sự gắn chặt với trách nhiệm đến cùng; chỉ chịu sự ràng buộc của những hình thức chế tài có hiệu lực không cao, kèm theo đó là năng lực bộ máy còn yếu.
·         Tình trạng tăng trưởng nóng, đầu tư cao nhưng kém hiệu quả, dẫn tới lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô vài năm gần đây đi liền với xu hướng gia tăng đầu tư dàn trải, trầm trọng hơn tình trạng lãnh phí, thất thoát, tham nhũng… chứng tỏ hiệu quả thấp của hoạt động thu chi ngân sách và nhiều vấn đề gay gắt đang tồn tại trong lĩnh vực này. Bức tranh ngân sách còn phiến diện. Hiện các khoản thu chi ngân sách nhà nước chưa được phản ánh toàn diện và đầy đủ trong ngân sách nhà nước, làm cho bức tranh ngân sách bị méo mó, phiến diện. Theo một số nghiên cứu, thì có tới 30 quỹ và định chế tài chính các loại chưa được đưa vào cân đối trong ngân sách nhà nước.Từ đó phát sinh yêu cầu đổi mới Luật Ngân sách Nhà nước - thể chế trung tâm của các quá trình ngân sách Nhà nước.
·         Hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước chưa cao cả trong chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Nguyên nhân do công tác xã hội hóa, đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập triển khai vẫn còn chậm, kết quả hạn chế dẫn tới gánh nặng chi ngân sách nhà nước và tình trạng chi tiêu kém hiệu quả, lãng phí chưa được khắc phục...
·         Chi tiêu công là khoản chi lớn tiền công quỹ của Nhà nước, có điều kiện dẫn đến tham ô, lãng phí và người quyết định sử dụng chưa gắn trách nhiệm cá nhân với hiệu quả sử dụng tiền của Nhà nước, thậm chí còn có những hành vi vi phạm những quy định tài chính như chế độ, tiêu chuẩn, định mức, v.vv.. gây thất thoát, lãng phí nguồn tiền lớn của Nhà nước.
·         Quản lý chi tiêu công của Việt Nam hiện nay vẫn dựa vào phương thức quản lý theo các khoản mục đầu vào, chưa chú trọng đến kết quả đầu ra và tác động ảnh hưởng đầu ra trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược quốc gia. Chính việc quản lý theo các yếu tố đầu vào đã không khuyến khích các đơn vị sử dụng ngân sách tiết kiệm vì nó không đưa ra yêu cầu có sự ràng buộc chặt chẽ giữa nguồn kinh phí sử dụng với kết quả cần đạt được ở đầu ra do sử dụng nguồn kinh phí đó. Hay nói cách khác, chưa tạo ra được mối liên kết giữa việc sử dụng ngân sách và kết quả chi tiêu.
·         Trong việc lập dự toán ngân sách hàng năm còn thiếu sự liên hệ chặt chẽ với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trung hạn và dài hạn, do vậy ngân sách nhà nước của chúng ta vẫn chưa mang tính trung và dài hạn. Nguồn lực phân bổ còn dàn trải, thiếu các tiêu chí để xác định mức ưu tiên trong chi tiêu công. Trong lập dự toán chi thường xuyên và chi đầu tư còn có sự tách rời nên hiệu quả sử dụng nguồn lực công chưa được nâng cao.
·         Cơ chế phân bổ nguồn lực còn kém hiệu quả, chi tiêu công chưa có sự nhạy cảm giới. Các khoản chi tiêu công chưa tính đến những nhu cầu của nam và nữ, do vậy, có nhiều khoản chi lãng phí, không phù hợp thực tế. Ví dụ điển hình là việc chúng ta xây hàng trăm cái chợ nhưng không có người đến họp chợ vì không đáp ứng được nhu cầu của người dân.
·         Định mức chi tiêu công hiện nay còn có những điểm hạn chế như hệ thống định mức đã quá lạc hậu, không phù hợp với thực tế, chậm được sửa đổi, dẫn đến tình trạng các đơn vị không thể sử dụng các định mức này trong việc chi tiêu, trong thực tế các đơn vị thường biến báo các số liệu cho phù hợp với yêu cầu, các định mức chi còn mang tính hình thức trong khâu thanh quyết toán. Một số định mức chi tiêu do trung ương ban hành không còn phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, các định mức chi tiêu do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành còn ít và chỉ liên quan đến những khoản chi nhỏ. Mặt khác, do thiếu những tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách thống nhất nên xảy ra tình trạng địa phương nào thu được nhiều thì sẽ chi tiêu nhiều, thu được ít thì sẽ phải chi ít, do đó việc chi tiêu công chưa căn cứ vào nhu cầu chi thực tế cần thiết.
·         Bên cạnh đó còn có những hạn chế khác như hoạt động của các cơ quan khu vực công còn nhiều hạn chế, quy mô còn cồng kềnh, biên chế trong các cơ quan nhà nước rất lớn, áp lực chi tiêu công quá cao, v.vv..
PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT
·         Để có thể giải quyết được những tồn tại trên, thì việc sửa Luật ngân sách nhà nước không chỉ là cần thiết mà có thể nói là đặc biệt cấp bách bởi hai lý do: Thứ nhất là với việc gia nhập WTO, nền kinh tế đã chuyển sang giai đoạn mới về chất, một trình độ phát triển mới. Các thể chế kinh tế hiện hành bao gồm cả những thành tố cơ bản nhất như Luật ngân sách nhà nước không đáp ứng được yêu cầu mới. Thứ hai là thực tiễn những năm qua cho thấy có nhiều bất cập trong hoạt động chi tiêu ngân sách nhà nước nhằm mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế.
·         Tới đây chúng ta phải cắt giảm bội chi và đang cố gắng những năm tới sẽ đưa trở lại mức 5% (mức Quốc hội thông qua cho năm 2011 là 5,3%). Chúng ta bằng cách phải giảm lượng phát hành trái phiếu Chính phủ và các dự án đầu tư đến mức tối đa. Riêng với những dự án từ ngân sách nhà nước hoặc là của trái phiếu Chính phủ mà Quốc hội đã ban hành, sẽ chỉ tập trung vào những dự án mang lại hiệu quả sớm nhất.
·         Cần phải có một chiến lược phát triển kinh tế rõ ràng. Để đạt được tính hiệu quả, chiến lược phát triển kinh tế phải được xây dựng trên những điều kiện hiện tại và cụ thể của nền kinh tế quốc gia cũng như là nền kinh tế thế giới với những dự đoán thuyết phục. Nếu làm được như vậy, chính phủ sẽ dễ dàng hơn trong công tác hoạch định chi tiêu công và tránh những sự thay đổi không cần thiết.
·         Cần thiết chọn lựa các lĩnh vực đầu tư chi tiêu công một cách đúng đắn và hiệu quả. Các khoản chi tiêu công cần hướng đến những lĩnh vực mang tính tiên phong và có khả năng thúc đẩy các lĩnh vực khác trong nền kinh tế cùng phát triển. Cần phải có sự chuyển dịch những khoản chi tiêu công từ những lĩnh vực không hiệu qủa đến những lĩnh vực hiệu quả hoặc hiệu quả hơn để tiết kiệm chi tiêu góp phần làm giảm sức ép thâm hụt ngân sách.
·         Chính phủ phải quản lý chặt chẽ việc sử dụng ngân sách bằng việc quy định rõ ràng quyền hạn và giới hạn của địa phương trong việc quyết định các khoản chi.
·         Báo cáo về chi tiêu công phải được kiểm tra thường xuyên nhằm đảo bảo tiền đã đến được điểm chúng cần đến. Trên phương diện này, tham nhũng, cửa quyền hay chiếm dụng tài sản công sẽ được hạn chế ở mức thấp nhất.
·         Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình tài chính.
·         Tăng cường hơn nữa việc giao quyền tự chủ cho các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp trong quản lý chi tiêu công.
·         Thực hiện cơ chế giám sát đối với các khoản chi tiêu công.
·         Xem lại các chế độ, tiêu chuẩn, định mức phù hợp với điều kiện thực tế. Rà soát và sửa đổi những chế độ, tiêu chuẩn, định mức đã lạc hậu so với thực tiễn và bổ sung những định mức mới cho đồng bộ. Cần nâng cao tính pháp lý của hệ thống định mức không chỉ trong lập và phân bổ dự toán mà còn là yêu cầu để các đơn vị làm căn cứ trong việc thực hiện chi tiêu công. Cần nghiên cứu và xác định định mức phân bổ ngân sách một cách khoa học và phù hợp với từng lĩnh vực cụ thể. Tăng cường quyền hạn gắn với trách nhiệm cho các bộ, ngành, địa phương trong việc tự xác định định mức phân bổ ngân sách cũng như định mức chi tiêu cho cấp dưới theo định mức khung do trung ương ban hành. Mở rộng thêm quyền của chính quyền địa phương trong việc ban hành một số định mức chi tiêu có tính đặc thù theo điều kiện cụ thể của địa phương.
·         Giao cho Kho bạc nhà nước trách nhiệm là người gác cổng cuối cùng thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi trước khi thực hiện xuất quỹ ngân sách nhà nước để các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí cho các nhiệm vụ thường xuyên và đầu tư.
Chuyển phương thức lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm sang phương thức lập dự toán ngân sách trung hạn bằng việc xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn và trên cơ sở chi tiêu trung hạn mới xây dựng và thiết lập ngân sách nhà nước hàng năm.

Các bạn có thể down slide thuyết trình bài thảo luận này tại đây.


<<==Xem đề tài trước                                                              Xem đề tài tiếp theo =>>