Showing posts with label Tài chính học. Show all posts
Showing posts with label Tài chính học. Show all posts

13 June, 2012

Tổng hợp Đề tài và bài thảo luận - Tài chính học - HVNH

1. Khủng hoảng  hệ thống Tài chính Mỹ và bài học cho Việt Nam.


2. Vai trò của Nhà nước đối với HTTC, liên hệ Việt Nam.


3. Sự cạnh tranh của các TGTC phi Ngân hàng với  các NHTM, liên hệ Việt Nam.


4. Phân tích vai trò điều tiết các hoạt động kinh tế của Tài chính công, chứng minh bằng thực tế VN trong những năm gần đây(2008 đến nay).


5. Phân tích vai trò điều tiết vĩ mô về mặt xã hội của Tài chính công, chứng minh bằng thực tế VN trong những năm gần đây (2008 đến nay).


6. Những quan niệm cân đối ngân sách nhà nước và giải pháp bù đắp thâm hụt ngân sách và đề xuất giải pháp phù hợp nhất với tình hình Việt Nam hiện nay.


7. Những ảnh hưởng của nợ công đến kinh tế xã hội, liên hệ Việt Nam.

8. Những nguồn tài trợ cho hoạt động của Doanh nghiệp, liên hệ thực tế  VN.


9. Những hình thức vay nợ của Nhà nước? Liên hệ tình hình vay nợ của Việt Nam trong giai đoạn từ 2009 đến nay.

08 May, 2012

Vai trò của tài chính công ở Việt nam giai đoạn 2008-2010



BÀI THẢO LUẬN

VAI TRÒ TÀI CHÍNH CÔNG 2008 – 2010

I.          Tìm hiểu chung về tài chính công
Nhà nước ra đời mang tính chất khách quan nhưng tồn tại lại mang tính chất chủ quan. Nhà nước có 2 chức năng chính là trấn áp bạo lực và tổ chức quản lí. Vai trò của tài chính công luôn gắn liền với vai trò của nhà nước trong từng thời kì nhất định, tài chính công là một trong các công cụ được nhà nước sử dụng nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ.
Khái niệm tài chính công được thể hiện qua 2 khía cạnh: hình thức và vật chất.
Xét về hình thức, tài chính công là các hoạt động thu, chi tiền tệ nhà nước gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cáu thực hiện chức năng của nhà nước trong việc cung cấp hành hóa công cho xã hội.
Xét về thực chất, tài chính công phản ánh các quan hệ kinh tế trong phân phối nguồn tài chính quốc gia phát sinh giữa các cơ quan công quyền của nhà nước với các chủ thể khác trong nền kinh tế nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong việc cung cấp hành hóa, dịch vụ công cho xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận.
Vai trò của tài chính công đối với nề kinh tế rất quan trọng. Cụ thể, vai trò của tài chính công được xem xét trên hai phương diện là: đảm bảo duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đảm bảo duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước, là vai trò truyền thống của tài chính công trong mọi mô hình kinh tế mà bất cứ quốc gia nào cũng đều sử dụng tài chính công để phục vụ cho công việc quản lý, điều hành nền kinh tế -  xã hội. Đồng thời thông qua các hoạt động của tài chính công đã tạo nguồn tài chính một cách kịp thời để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên của nhà nước, giúp cho bộ máy nhà nước được vận hành có hiệu quả.
Điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội là vai trò đáng chú trọng hơn trong cơ chế thị trường. Chính phủ các nước sử dụng tài chính công như một công cụ nhằm khắc phục những thất bại của nền kinh tế thị trường như độc quyền, khoảng cách giàu nghèo… Vai trò này được thực hiện qua hai công cụ: công cụ thuế và công cụ chi tiêu công nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định, bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô thực hiện công bằng xã hội đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội
Trong giai đoạn 2008 – 2010, vai trò tài chính công ở nước ta được thể hiện rõ ràng nhất trong điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm ổn định kinh tế, hạn chế đã suy giảm trước tác động của khủng hoảng toàn cầu đồng thời đưa đất nước dần phục hồi sau khủng hoảng.
II-Vai trò của tài chính công ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2010
1.                  Tài chính công 2008
F Tình hình kinh tế
+) Trong nửa đầu năm, Việt Nam gánh chịu ảnh hưởng của tình trạng phát triển quá nóng khởi nguồn từ dòng vốn vào ồ ạt. Kết quả là lạm phát gia tăng, thâm hụt thương mại, bong bóng bất động sản và giảm sút chất lượng đầu tư
+) Chịu tác động từ cuộc khủng hoảng KT thế giới 2007 - 2010
+)  Các doanh nghiệp sản xuất gặp phải nhiều khó khăn
F Tình hình xã hội
+) Lạm phát những tháng đầu năm cao -> khó khăn cho nhân dân
+) Doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, cắt giảm lao động. Vào tháng 7/2008, tổng số người thất nghiệp ở thành thị tăng 2,7% so với năm 2007, đưa tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị lên 4,7% so với 4,6% năm 2007. Con số người thất nghiệp, mất việc làm và phải giảm giờ làm còn tăng cao hơn nữa trong nửa cuối năm 2008. Hơn nữa, lạm phát cao càng làm giảm thu nhập thực của đa số dân cư và có tác động rất xấu đến nhóm người nghèo, thu nhập thấp.
Để đảm bảo ổn định KT vĩ mô và an sinh xã hội chính phủ đã sử dụng TCC như một công cụ hữu hiệu để tác động và nền kinh tế thông qua chính sách thuế và chi tiêu công
1.1.           Chính sách thuế ( Điểu chỉnh tăng và giảm)
a)                 Điều chỉnh tăng
_ Điều chỉnh tăng mức thuế suất thuế nhập khẩu bằng mức trần tối đa theo cam kết trong WTO của năm 2008 đối với các hàng hoá tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu (ô tô nguyên chiếc, linh kiện và phụ tùng ô tô; một số mặt hàng điện tử, điện lạnh,...)
VD về việc điều chỉnh thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc
_ Điều chỉnh tăng thuế suất thuế xuất khẩu đối với hàng hoá là tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản (dầu thô, than đá, quặng kim loại…)
_ Điều chỉnh tăng lệ phí trước bạ đối với ôtô con nguyên chiếc dưới 10 chỗ ngồi
b)                 Điều chỉnh giảm
_ Tiếp tục giảm thuế đối với khoảng 1.700 mặt hàng thuộc 26 ngành hàng khác nhau, với mức giảm thuế từ 1 - 6% (chủ yếu là 2 - 3%).
_ Điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm mặt hàng thiết thực phục vụ sản xuất  (clinke, một số mặt hàng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, giấy in báo…)
_ Giãn thời hạn nộp thuế và giảm thuế đối với các đơn vị sản xuất - kinh doanh hoạt động chế biến hàng XK
_ Rà soát, bãi bỏ một số khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân không còn phù hợp, giảm đóng góp của nhân dân trong điều kiện giá cả tăng
è               GIảm giá nguyên liệu đầu vào -> Giảm giá thành sản phẩm
è               GIảm gánh nặng thuế cho doanh nghiệp trong đk kinh tế trong nước và thế giới gặp phải nhiều khó khăn
è               Giảm gánh nặng thuế cho người dân
1.2.           Chi tiêu tài chính công.
v        Cắt giảm 10% chi thường xuyên của các cơ quan Nhà nước ( trừ chi lương) và giảm 25% tổng vốn đầu tư vào các dự án tài trợ bằng trái phiếu chính phủ.
-                     Nội dung:
 Theo chỉ đạo, việc cắt giảm 10% chi tiêu sẽ tập trung vào các nội dung chính như: tạm dừng mua sắm ôtô công, tài sản có giá trị lớn, sửa chữa trụ sở làm việc; hạn chế tối đa các khoản chi hội nghị, hội thảo, lễ hội, đi công tác trong và ngoài nước bằng ngân sách; tiết giảm tối thiểu 10% trong sử dụng điện, nước, điện thoại; ngừng các khoản chi cho nhiệm vụ chưa cấp bách và nội dung không thiết thực.
 Đối với nguồn vốn trái phiếu chính phủ, các bộ, ngành và địa phương sẽ phải rà soát lại việc phân bổ và xác định nhu cầu vốn trong năm 2008. Trên cơ sở đó, Bộ Kế hoạch - Đầu tư sẽ xây dựng phương án cắt giảm khoảng 25% kế hoạch vốn đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ năm 2008.
-         Kết quả: Tiết kiệm chi thường xuyên gần 3 nghìn tỷ đồng
Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ về tiết kiệm 10% chi thường xuyên trong năm 2008 (trừ các khoản liên quan đến người lao động).
Số tiền tiết kiệm này được bổ sung vào nguồn thực hiện chính sách an sinh xã hội; phòng, chống khắc phục thiên tai, dịch bệnh và các nhiệm vụ cấp bách khác.
v                 Rà soát lại danh mục các dự án đầu tư bằng vốn Nhà nước và không tăng tổng vốn đầu tư
- Nội dung:
Trên cơ sở đó, các bộ, ngành và địa phương sẽ đình hoãn khởi công các dự án không có trong quy hoạch được phê duyệt, chưa đủ thủ tục, chưa giải phóng mặt bằng hoặc còn nhiều vướng mắc về thủ tục. Ngừng triển khai các dự án chưa thực sự cấp bách, không mang lại hiệu quả. Đình hoãn các dự án xây dựng trụ sở các cơ quan, xây dựng hội trường, bảo tàng, nhà văn hóa đã có kế hoạch năm 2008 nhưng chưa khởi công. Thực hiện giãn tiến độ các dự án: đã được duyệt hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2007 trở về trước nhưng bố trí vốn không đủ tiến độ mà đến hết năm 2007 số vốn bố trí chưa được 50% khối lượng dự án; các dự án còn vướng mắc trong thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng.
Các bộ, ngành và địa phương không thực hiện rà soát sẽ không được tạm ứng vốn. Số vốn có được từ các biện pháp này sẽ được chuyển cho các dự án có hiệu quả, cấp bách, hoàn thành trong năm 2008 - 2009.
-         Kết quả: Đình hoãn, giãn tiến độ gần 2 nghìn dự án, công trình
Việc rà soát lại các công trình, dự án, danh mục dự án đầu tư sử dụng vốn từ nguồn ngân sách nhà nước cần phải đình hoãn hoặc giãn tiến độ cũng được các Bộ, ngành, địa phương triển khai nghiêm túc. Theo đó, tổng số công trình, dự án đình hoãn, ngừng triển khai thực hiện và giãn tiến độ thực hiện trong kế hoạch năm 2008 là 1.736 dự án, với tổng số vốn là 5.625 tỷ đồng.
Trong đó, tổng số dự án điều chỉnh giảm của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 290 dự án với tổng số vốn là 4.775 tỷ đồng.
v     Tăng cường thu hút và giải ngân ODA
-   Nội dung:
Năm 2008, Bộ Tài chính đã tiến hành thẩm định và phê duyệt cho 08 dự án. Các dự án này hỗ trợ cho Bộ Tài chính trong lĩnh vực: quản lý doanh nghiệp, quản lý nợ, phân tích chính sách tài chính, quản lý rủi ro hải quan, nâng cao năng lực, hậu WTO, quản lý thuế và quản lý giá.
Tình hình đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế cụ thể về ODA:Tổng vốn đầu tư của 08 dự án này gần 10 triệu USD, quy đổi ra là gần 141 tỷ VNĐ (trong đó vốn ODA viện trợ không hoàn lại gần 9 triệu USD).
-         Kết quả: Tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA năm 2008
Năm 2008, Bộ Tài chính tiếp nhận thêm 08 dự án mới, kết thúc 01 dự án, đưa tổng số dự án đang thực hiện lên 25 chương trình, dự án với tổng giá trị cam kết lên đến gần 248 triệu USD (trong đó 203 triệu ODA vay và 45 triệu ODA không hoàn lại). Các dự án của Bộ Tài chính chủ yếu là dự án có quy mô vừa (10 dự án) và nhỏ (11 dự án).
Biểu đồ 2.1 - Số lượng dự án theo quy mô vốn
Các dự án do nước ngoài tài trợ cho Bộ Tài chính tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực quản lý thu NSNN (64%), quản lý chi NSNN (26%), quản lý nợ, lĩnh vực bảo hiểm….

Hình 2.2: Biểu đồ phân loại theo lĩnh vực
 Phân loại dự án theo loại hình tài trợ thì số lượng các dự án do các Tổ chức tài chính quốc tế và tổ chức quốc tế tài trợ (11 dự án) gần tương đương với số lượng dự án do các song phương (12 dự án). Tuy nhiên, quy mô vốn thì hoàn toàn khác biệt (dự án do TCTCQT và TCQT chiếm tỷ lệ cao nhất và chủ yếu nhất (88%)
Tóm lại, có thể nói, những kết quả đạt được trong thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam trong  năm qua đã cho thấy cộng đồng tài trợ quốc tế đã khẳng định sự đồng tình và ủng hộ chính sách ngoại giao mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá của Việt Nam. Đồng thời, việc tiếp nhận và sử dụng ODA đã góp phần tăng cường và củng cố vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Mặt khác góp phần quan trọng cho tổng đầu tư toàn xã hội, chiếm khoảng 12-13%. Song điều quan trọng hơn cả là nguồn vốn ODA đã được tập trung để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KT-XH, góp phần tạo lập môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, khu vực tư nhân nhằm xoá đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân.
Bên cạnh những kết quả khả quan trong thu hút và sử dụng ODA thì vẫn còn một số yếu kém:
Thứ nhất, mặc dù đã có những chuyển biến tích cực nêu trên song có thể thấy tỷ lệ giải ngân ODA của Việt Nam còn thấp so với mức trung bình của khu vực.
Thứ hai, các văn bản pháp quy về ODA chưa được thực hiện đầy đủ; Chất lượng văn kiện chương trình, dự án chưa cao; Năng lực nhà thầu/tư vấn không đáp ứng được yêu cầu công việc; Cơ chế bố trí vốn đối ứng giữa Trung ương và địa phương chưa phù hợp; Năng lực tổ chức và quản lý ODA ở cấp địa phương còn nhiều hạn chế; Cơ chế phối hợp giữa Ban QLDA Trung ương và Ban QLDA của địa phương chưa chặt chẽ; Công tác xây dựng kế hoạch hoạt động, kế hoạch chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị thực hiện dự án của các Sở, ngành, Ban QLDA địa phương thường chậm và bị động; Sự khác biệt về quy trình, thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài trợ, đặc biệt trong lĩnh vực đấu  thầu, chính sách về an sinh xã hội làm chậm tiến độ thực hiện và giải ngân; Thay đổi quy hoạch ở địa bàn nơi thực hiện dự án là một trong những nhân tố đã tác động không nhỏ đến tiến độ của dự án...
§        Thường xuyên rà soát, kiểm tra chi tiêu vay nợ của các DNNN
§        Đề xuất quy định mới về quản lí tài chính của các DNNN, trong đó yêu cầu DNNN tập trung vào lĩnh vực kinh doanh và các khoản đầu tư của DNNN vào ngân hang và chứng khoán phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.
Đặc biệt trong 2008 nhà nước có chính sách tiền lương cho người nghỉ hưu và CNV thu nhập thấp. Cụ thể:
Ngày 12/9/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định 101/2008/NĐ-CP điều chỉnh tăng lương hưu nói chung và trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã, phường đã nghỉ việc thêm 15% từ ngày 1/10 tới.
Cũng từ ngày 1/10/2008, dự kiến sẽ áp dụng trợ cấp khó khăn đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương thuộc LLVT có mức thu nhập thấp (hệ số lương từ 3,0 trở xuống) với mức trợ cấp 270.000 đồng/người/quý
2.                 Tài chính công 2009
F Tình hình KT – XH
+) Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động
+) việc thực thi chính sách kích thích kinh tế, ở một chừng mực nhất định nào đó, sẽ gây áp lực làm tăng lạm phát và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta
Chính phủ đã sử dụng công cụ tài chính công như thế nào để giảm tốc độ theo đà suy thoái kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội?
2.1.           Những chính sách điều chỉnh thuế 2009
  ( Chính sách thuế 2009 có thay đổi đáng kể so với các năm trước được thể hiện cụ thể nhất qua 3 loại thuế:
+) Thuế TNCN
+) Thuế TNDN
+) Thuế VAT
a)                 Thuế thu nhập DN
_ Giảm thuế suất thuế TNDN từ 28% xuống 25%.
_ Giảm 30% thuế TNDN cho các DNVN
_ Giãn nộp thuế TNDN trong 9 tháng cho 1 số DN
è               Giảm bớt gánh nặng thuế cho DN, tạo đk cho DN tập trung vốn vào phục vụ sản xuất.
b)                 Thuế thu nhập cá nhân
+) Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các khoản thu nhập chịu thuế
Kể từ năm 2009, thu nhập chịu thuế không chỉ gói gọn trong thu nhập từ tiền lương, tiền công, mà còn bao gồm thu nhập từ đầu tư chứng khoán, đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, thừa kế, quà tặng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tiền bản quyền tác giả… Những thay đổi này không chỉ giúp thuế TNCN của Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế, mà còn góp phần bù đắp phần nào sự giảm về số thu ngân sách nhà nước từ thuế gián thu, chẳng hạn như thuế nhập khẩu do thực hiện các cam kết quốc tế sau khi gia nhập WTO.
+) Hoãn huế thu nhập cá nhân trong vòng 6 tháng ( bắt đầu từ 6/2/2009)
c)                 Thuế giá trị gia tăng
+) Thu hẹp từ 28 xuống còn 25 nhóm hàng hoá, dịch vụ chịu thuế VAT.
+) Giảm 50% thuế VAT cho một số HHDV và hàng NK
+) Áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% đối với các dịch vụ xuất khẩu, mà không cần thiết là phải có điều kiện tiêu thụ ngoài Việt Nam như trước đây
2.2.           Chính sách chi tiêu công
Chính phủ đưa ra gói cứu trợ nhằm trị giá 8 tỷ USD nhằm giải quyết cấp thiết các vấn đề trước mắt đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội
a)                 Đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô
 Đáng chú ý nhất là việc chính phủ hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp: với tổng trị giá 17000 tỷ đồng. Động thái này có tác động tích cực về cả 2 phía doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng.
+) Đối với DN: như một chiếc phao cứu sinh làm gia tăng tức thời lòng tin của các doanh nghiệp, các ngân hàng và nhà đầu tư trong nước và quốc tế  vào trách nhiệm và quyền năng của Nhà nước trong giải cứu các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, cũng như vào triển vọng thị trường và môi trường đầu tư trong nước. Đồng thời “Gói kích cầu” còn trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn ngân hàng với chi phí rẻ hơn, từ đó góp phần giảm giá, tăng cạnh tranh và tăng tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường, có thêm cơ hội giữ vững và mở rộng sản xuất, từ đó góp phần giảm bớt áp lực thất nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội.
+) Đối với hoạt động ngân hàng, “gói kích cầu” còn giúp các ngân hàng cải thiện hoạt động huy động và cho vay tín dụng do không phải hạ thấp lãi suất huy động, vừa mở rộng đầu ra nhờ không phải nâng lãi suất cho vay dễ làm thu hẹp cầu tín dụng trên thị trường. Sự ổn định và hoạt động lành mạnh của hệ thống ngân hàng trong khi gia tăng dòng tiền bơm vào thị trường là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định kinh tế vĩ mô và gia tăng các hoạt động đầu tư xã hội. 
b)     An sinh xã hội
3.                  Tài chính công 2010
Năm 2009 được đánh giá là đáy của suy thoái kinh tế thế giới -> Tin tốt lành cho nền kinh tế 2010
Tuy nhiên, cùng với những tác động tích cực từ các chính sách TCC 2009  đến nền kinh tế, các chính sách đã bộc lộ một số điểm hạn chế như viêc: sự lạm dụng, thiếu kiểm soát và sử dụng không hiệu quả các “gói các kích cầu” sẽ có thể gây ra một số hệ lụy tiêu cực nặng nề khó đo lường, như: Làm thất thoát, lãng phí các nguồn vốn vay, gia tăng gánh nặng nợ nần và các hiện tượng “đầu cơ nóng” , lạm phát…
*) Chính sách thuế trong năm 2010 nổi bật với 3 lần giảm thuế nhập khẩu xăng
§                    Từ ngày 21/4/2010, thuế nhập khẩu xăng giảm từ 20% xuống 17%, thuế nhập khẩu các loại dầu giảm từ 15% xuống 10%.
§                    Từ ngày 1/12/2010, thuế nhập khẩu xăng giảm từ 17% xuống 12%, thuế nhập khẩu dầu giảm từ 10% xuống  còn 5%.
§                    Từ ngày 22/12/2010, thuế nhập khẩu xăng giảm còn 6% từ mức 12% trước đó, thuế nhập khẩu dầu giảm còn 2% từ mức 5% trước đó.
*) Về chính sách chi tiêu tài chính công
+) Tăng lương cơ bản
+) Trợ giá cho các mặt thiết yếu như một số hàng tiêu dùng, xăng dầu, điện…( và trích lập các quỹ bình ổn giá). Theo kết quả kiểm toán tại 10 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, năm 2010 số phải trích là 4,583,753 triệu đồng
+) Các chính sách trợ cấp được tăng cường. Chính sách trợ giú người có công và bảo trợ xã hội tiếp tục được hoàn thiện, đã mở rộng đối tượng thụ hưởng và tăng mức trợ cấp. Nhà nước dành hơn 19000 tỷ đồng (tăng 17% so với năm 2009) để thực hiện chính sách cho hơn 1.4 triệu người công với cách mạng; dành 4500 tỷ đồng (gấp hơn 2 lần so với năm 2009) để thực hiện trợ cấp thường xuyên cho hơn 1.6 triệu người. Dư nợ cho vay ưu đãi để thực hiện các chính sách xã hội là 91000 tỷ đồng , tăng 25% so với năm 2009, riêng dư nợ tín dụng cho hơn 1.9 triệu học sinh, sinh viên là 29000 tỷ, tăng 60%.
( VD thêm về vvs TP HCM trợ giá xe buyt 700 tỷ
                                                Hà Nội : 339 tỷ)
II.               Kết quả đạt được 2008 – 2010
Nghiên cứu và phân tích các biểu đồ
1.1.           Chỉ số GDP, CPI, Xuất khẩu, Đầu tư.





Mặc dù sau khủng hoảng, kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, nhưng kinh tế nước ta đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm và có mức tăng trưởng khá cao. GDP cả năm 2010 tăng khoảng 6,7%. Khu vực nông nghiệp tăng 2,6%, công nghiệp và xây dựng tăng 7,6%, dịch vụ tăng 7,5% GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.160 USD (tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 5 năm 2006 - 2010 đạt khoảng 7%/năm).
Vốn đầu tư phát triển năm 2010 ước tăng 12,9% so với năm 2009 và bằng khoảng 41% GDP.
Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2010 dự kiến vượt 12,7% so với dự toán và tăng 17,6% so với năm 2009
Đến hết năm 2010, dư nợ Chính phủ tương đương khoảng 44,5% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 42,2% GDP và dư nợ công bằng 56,7% GDP, nằm trong giới hạn an toàn

1.2.  Thu hút vốn FDI

Do vẫn còn ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, thu hút FDI đạt 18,6 tỉ USD, giảm 19,5% so với mức 23,1 tỉ USD của năm 2009, không đạt mục tiêu thu hút 22 – 25 tỉ USD trong năm 2010. Điểm sáng nhất trong thu hút FDI năm nay là chỉ tiêu giải ngân, đạt 11 tỉ USD, tăng 10% so với năm trước và chỉ cách kỉ lục của năm 2008 là 500 triệu USD; nhóm ngành sản phẩm chế biến vươn lên dẫn đầu khi có tới 4,37 tỉ USD đăng kí và giúp số dự án nhóm này tăng gần gấp rưỡi. Đây được đánh giá là tín hiệu tốt đối với nền kinh tế trong việc thu hẹp thâm hụt thương mại trong tương lai.
Tuy nhiên với những kết quả đạt đc, công tác quản lí TCC còn xuất hiện nhiểu yếu kém mà chứng minh tốt nhất là vụ vinashin 2010
Nguyên nhân:
1.         Tình trạng “nước chảy chỗ trũng” là một trong những bất cập của chính sách chi tiêu công.
Năm 2005 Vinashin được Nhà nước cho vay 750 triệu USD lấy từ nguồn 1tỷ USD Nhà nước vay được từ hoạt động phát hành trái phiếu quốc tế. Năm 2007, khoản vay 600 triệu USD của Vinashin tuy không có bảo lãnh của Chính phủ nhưng nhờ có  “thư hậu thuẫn” nên đã được vay với lãi suất thấp. Tuy nhận được nhiều khoản vay, nhưng hoạt động đầu tư của Tập đoàn lại mang lại hiệu quả không cao. Mức đóng góp vào tăng trưởng thấp, chưa tương xứng.  Ngày 1/11/2011 Vinashin đã chính thức bị Công ty Elliot VIN (Hà Lan) khởi kiện lên tòa án tại Anh, liên quan đến khoản nợ 600 triệu đô la vay bằng trái phiếu. 60 triệu đô la từ khoản vay này đã đến hạn trả nợ từ tháng 12/2010 nhưng Vinashin và các công ty con không có khả năng thanh toán đưa Vinashin đến bờ vực phá sản. 
2.      Tình trạng bao che, biện hộ
Từ năm 2006 đến 2009, tập đoàn này đã qua 11 lần kiểm toán, kiểm tra, thanh tra nhưng vẫn không phát hiện đầy đủ, kết luận đúng tình hình yếu kém để có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Theo Tổng kiểm toán viên Nhà nước bấy giờ  là ông Vương ĐÌnh Huệ, đã 2 lần KTNN xây dựng kế hoạch kiểm toán với tập đoàn này nhưng chưa thực hiện được để tránh trùng lặp với công tác kiểm tra của Thanh tra  Chính phủ.  Công tác thanh kiểm tra ở một tập đoàn lớn như Vinashin đã không được chú trọng đúng mức và gây nên hậu quả to lớn sau này.

Các bạn có thể tham khảo thêm thông tin về vụ Vinashin cho bài thuyết trình của mình!
Tài chính công và vụ Vinashin
Tuổi Trẻ - 20 tháng trước 130 lượt xem
TTCT - Không thể không quan tâm đến thông tin từ Văn phòng Chính phủ hôm 18-9: Bộ Tài chính được lệnh “xử lý” đề nghị của Vinashin về việc sử dụng 300 triệu USD từ nguồn trái phiếu quốc tế năm 2010 để tập đoàn có nguồn trả nợ cho Ngân hàng Natixis.
Nôm na mà nói, chuyện này có nghĩa là lấy 300 triệu USD mới vay được năm nay qua phát hành trái phiếu quốc tế để bắt đầu trả món nợ mà Vinashin vay năm 2005. Nhìn ra khỏi khuôn khổ vụ Vinashin, việc lấy vay mới trả nợ cũ là một việc bất đắc dĩ mong rằng đừng tái diễn, vì những tác động bất lợi không tránh khỏi.
Vẫn nên “ôn cố”...
Biết rằng tổng vốn mà Chính phủ bảo lãnh cho Vinashin vay năm 2005 là 750 triệu USD, với lãi suất 7,125%/năm, tiền lãi năm đầu đã hơn 53,43 triệu USD. Nếu tính năm năm qua, tiền lãi phải trả (chưa tính lãi gộp) hơn 53,43 triệu USD/năm nhân với năm năm, tức 267,15 triệu USD. Nếu tính lãi gộp thì 300 triệu USD trái phiếu mới vay được năm nay đem ra vừa đủ để trả lãi, chưa tính đến trả vốn. Và nếu tính đến khi đáo hạn vào năm 2015, sẽ còn bao nhiêu tiền lãi bên cạnh 750 triệu USD vốn phải trả: tối thiểu sẽ thêm 1 tỉ USD nữa, cả vốn lẫn lãi...
Ngay từ khi Vinashin mới được bảo lãnh vay (năm 2005), Tuổi Trẻ Cuối Tuần đã tính toán số lãi phải trả này và cảnh báo: “Ở góc độ người dân thường, không thể không đặt câu hỏi: lãi suất 7,125%/năm, vay 750 triệu USD trong 10 năm, trả lãi bao nhiêu? Thời gian như tên bắn. Cuối tháng 3 này, các chủ nợ ở New York đã lãi khoảng... trên 26 triệu USD sau sáu tháng, nếu tính hết thời hạn cho vay 10 năm, số lãi phải trả sẽ là 536 triệu USD (lãi đơn). Bất cứ ai mua nhà trả góp chỉ với 1%/năm đều có thể kiểm nghiệm bằng thực tế trả lãi của mình”.
Một tuần sau đó, mục “Thời sự & suy nghĩ” của Tuổi Trẻ khuyến cáo thêm: Cú sốc “mỗi năm trả nợ 2 tỉ USD” đã lan khắp bề mặt báo chí trong tuần qua. Điều đó cho thấy công luận và công chúng quan tâm đến đất nước như thế nào. Hãy nhìn thấy nơi làn sóng quan tâm đó một vận hội tích cực: vận hội “thật sự liêm chính cần kiệm”. Hãy nương theo làn sóng ý dân muốn “sạch” đó để thật sự làm sạch bộ máy. Từ đó, hãy khởi sự một ý thức mới “chúng ta đang nợ, hãy sống, làm việc, sử dụng nợ như là những con nợ chứ đừng như là các chủ nợ!”.
Tiếc là những khẩn khoản đó đã không được chú ý đúng mức. Và tiền vay đã vào rồi ra khỏi Vinashin như gió vào nhà trống, hậu quả nhãn tiền ngày nay.
...để “tri tân” cho sát
Cho đến buổi chất vấn chiều 10-6-2010 của Quốc hội, những thông tin về số nợ đó của Vinashin đã được sử dụng ra sao vẫn hiếm hoi như lá mùa thu. Ngay cả khi đại biểu Quốc hội Vũ Quang Hải chất vấn Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng về vụ thua lỗ của con tàu Hoa Sen của Vinashin, vấn đề nợ của Vinashin cũng chỉ gói gọn ở con tàu bất hạnh này. Gọi là “bất hạnh” vì theo giải thích của bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Vinashin vừa mua con tàu đó xong thì rơi ngay vào cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thị phần vận tải hàng hải thế giới - chứ không phải riêng chúng ta - giảm mạnh, giá cước vận tải còn giảm tới 100 lần...
Đối với Bộ Giao thông vận tải lúc đó, Vinashin có thua lỗ là do gặp vận xui, mua tàu không đúng lúc, chứ việc mua con tàu đó là đúng đắn: “Mục tiêu là vận chuyển hành khách và vận chuyển hàng hóa, hàng hóa ở đây cụ thể là ôtô theo tuyến Bắc - Nam. Đứng về mặt phù hợp với quy hoạch, chúng tôi cho rằng quy hoạch phát triển vận tải hàng hải cũng khuyến khích các doanh nghiệp tìm phương án tổ chức để vận tải chủ yếu là hàng hóa và hành khách trong tuyến ngắn, hàng hóa ở tuyến Bắc - Nam. Mục tiêu là phát triển vận tải hàng hải tuyến Bắc - Nam để chia sẻ bớt áp lực đối với vận tải đường bộ... Đấy là một chủ trương chung, có định hướng như vậy và Vinashin đi theo định hướng này cũng là một suy nghĩ, theo tôi, có hợp lý của nó”. (*)
Trên một bình diện khác, cuộc chất vấn và trả lời chất vấn chiều 10-6 ấy cho thấy vấn đề quan tâm là con tàu Hoa Sen có giá 1.300 tỉ đồng, chứ chưa nghe nhắc đến tổng nợ của Vinashin là bao nhiêu. Thành ra, thông báo “tái cơ cấu” Vinashin cùng tổng số nợ hơn 80.000 tỉ đồng mới như “sét đánh ngang tai” đối với không ít người.
Vậy mà chỉ ít lâu sau khi lãnh đạo số một của Vinashin là ông Phạm Thanh Bình bị đình chỉ chức vụ rồi bị bắt, thậm chí từ đầu tháng 7, báo chí đã có thể tuôn ra hết loạt bài “phanh phui” này đến “hồ sơ” khác. Thông tin về các sai phạm của ông này cứ như núi, ngang với số nợ; cứ như thể báo chí đã nắm vụ Vinashin tường tận chân tơ kẽ tóc từ thuở nào. Nếu nhớ lại buổi chất vấn trước đó một tháng của đại biểu Quốc hội Vũ Quang Hải, rõ ràng là đại biểu Quốc hội “hiểu biết chuyện” này (để có thể chất vấn) chỉ nói đến có “một móng tay” của vụ Vinashin. Câu hỏi đặt ra: Làm thế nào mà trước đó là cực ít thông tin, còn sau khi nội vụ vỡ lở lại là cơn lũ thông tin?
Đó mới chính là vấn đề cần đặt ra để hi vọng tránh các “vụ Vinashin” khác. Một công ty niêm yết thị trường chứng khoán, để thật sự được đánh giá là đáng tin cậy, phải được kiểm toán độc lập ra sao, cáo bạch hằng năm như thế nào thì tại sao Vinashin lại không phải làm như thế? Một con nợ ngân hàng bị giám sát như thế nào thì tại sao Vinashin lại không được giám sát như thế?
Câu trả lời chất vấn của bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải: “Chúng tôi là một bộ, là quản lý nhà nước về chuyên ngành kỹ thuật. Về những vấn đề những dự án tương tự như vậy thì bộ không có quyết định. Nhưng sau khi nghe thông tin về những tình hình khó khăn và công ty còn định đầu tư tiếp thì vấn đề này bộ đã phát hiện và đình chỉ, đã yêu cầu công ty phải xem xét lại phương án làm ăn và không được tiếp tục thực hiện.
Hiện nay doanh nghiệp đang xây dựng một vài phương án để xử lý về vấn đề này, tuy nhiên cụ thể thì chúng tôi chưa được báo cáo” (**) cho thấy Vinashin được quản lý như thế nào. Năm năm qua, “con nợ” Vinashin đã có lần nào cáo bạch với bất cứ ai? Với người dân đóng thuế trả nợ thay?
Các bạn có thể dowm slide bài thuyết trình này tại đây

18 April, 2012


Đề kiểm tra Tài chính học

Cô Nguyễn Thanh Huyền Ca1 thứ 4

Phần 1 trắc nghiệm chọn 1 câu đúng duy nhất

1.      Phân loại theo đối tượng đánh thuế các sắc thuế bao gồm?
a.      thuế tài sản(1)
b.      thuế thu nhập(2)
c.      thuế tiêu dung
d.      thuế tiêu dung (1)(2)
2.Chọn câu sai. Cân đối ngân sách cố ý thiếu hụt thuộc quan niệm mấy?
a. thứ 2
b. thứ 3
c. thứ 2 và 3
b. thứ 1
3. NH nào hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận
a. NH đầu tư
b. NH tiết kiệm
c. NH phát triển
d. NH chính sách
4. Thuế thu nhập DN được tính theo
a. Thu nhập chịu thuế(1)
b. Thu nhập tính thuế(2)
c Thuế suất và (2)
d. thuế suát và (1)
5. Công cụ Tài chính nào không phải trên thị trường tiền tệ
a. Cổ phiếu
b. Trái phiếu
c. Hợp đồng mua lại
d. Hợp đồng hoán đổi
6. Câu nào sai. Biện pháp khắc phục thâm hụt NS trong ngắn hạn là
a. Giảm chi
b. phát hành tiền giấy
c. tăng thuế
d. Vay nợ
7. vai trò thứ 2 của trung gian tài chính
a. Giảm CP giao dịch
b. giảm CP thong tin
c. cả a và b
d. giảm rủi ro
8. Chức năng thứ 3 của HTTC
a. sang lọc chuyển giao phân tán rủi ro
b. Giám sát QT phân bổ nguồn TC
c.
d.
9. Điều kiện định hướng cho sự ra đời của tài chính
a. sự ra đời của NN
b.
c.
d.
10.Nguyên nhân khách quan dẫn đến thâm hụt NS
a. Dân số tăng
b
c
d.

Phần 2. trả lời Đúng Sai. Giải thích ngắn gọn
1.      Chi dự trữ NN nằm trong chi đầu tư phát triển.
2.      Nh đầu tư hoạt động giống NHTM
3.      Nguồn TC là của cải trong XH được thể hiện bằng giá trị
4.      Thuế GTGT là loại thuế gián thu
5.      TGTC là nơi mua bán quyền sử dụng nguồn tài chính

Phần 3 Sử dụng CS tài chính công VN từ 2009 đến nay để CM vai trò điều tiết kinh tế của TC công.

Đề kiểm tra này m viết lại theo trí nhớ của m. Chắc chắn sẽ có sai sót so với bản gốc nhưng đại loại các câu hỏi là như thế. Mọi người tham khảo và làm bài thi tốt nha.

Good luck to you!!!

16 April, 2012

Đề tài 6. Những quan niệm cân đối ngân sách nhà nước và giải pháp bù đắp thâm hụt ngân sách và đề xuất giải pháp phù hợp nhất với tình hình Việt Nam hiện nay





Những quan niệm cân đối NSNN 
và giải pháp bù đắp thâm hụt NS

I. Khái niệm:
-         Ngân sách nhà nước: là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
-         Thâm hụt ngân sách: Thâm hụt ngân sách nhà nước là tình trạng các khoản thu ngân sách nhỏ hơn các khoản chi. Thâm hụt ngân sách được thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm so với GDP.

II. Các quan điểm về cân đối NSNN:
  1. Quan điểm thứ nhất: NSNN phải cân bằng hàng năm tức là tổng số chi không được vượt quá tổng số thu.
Biện pháp tài trợ phù hợp theo quan điểm này: giảm chi tiêu công, vay nợ.
a) Giảm chi tiêu công: cắt hoặc giảm các khoản chi kém hiệu quá hoặc chưa thật sự cần thiết. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công.
Ưu điểm:
+ phù hợp cho cả mục tiêu ngắn hạn và dài hạn;
+ dễ dàng thực hiện vì nằm trong quyền quyết định của CP;
+ không tạo gánh nặng nợ cho quốc gia.
Hạn chế:
+ có giới hạn, không thể giảm chi quá nhiều;
+ dễ gây ra sự phản ứng tiêu cực từ công chúng.
b) Vay nợ:
Vay trong nước: bằng việc phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc nhà nước, trái phiếu đầu tư.
Ưu điểm:
+ duy trì việc giảm thâm hụt ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế.
+ Tập chung được khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư; tránh được nguy cơ khủng hoảng nợ nước ngoài; dễ triển khai.
Hạn chế:
+ chứa đựng nguy cơ kìm hãm sự phát triển của các hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế.
+ việc trả lãi trong tương lai tạo ra một gánh nặng nợ cho chính phủ (trừ khi những thâm hụt ngân sách nhà nước này bắt nguồn từ việc chi tiêu cho các dự án đầu tư có sức sinh lời).
Ở Việt Nam, Chính phủ thường uỷ nhiệm cho Kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức: tín phiếu kho bạc; trái phiếu kho bạc; trái phiếu công trình.
          Vay nợ nước ngoài: có thể được thực hiện vay từ chính phủ các nước, các tổ chức tài chính quốc tế hoặc phát hành trái phiếu quốc tế.
Ưu điểm:
+ không gây sức ép lạm phát cho nền kinh tế;
+ nguồn vốn với quy mô lớn, lãi suất ưu đãi.
Hạn chế:
+ gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu của chính phủ.
+ dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài; có thể phải nhượng bộ trước những yêu cầu từ phía nhà tài trợ.
          Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cung cấp cho chính phủ của một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA.
Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoaị tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng... 
  1. Quan điêm thứ 2, lý thuyết về ngân sách chu kỳ: Quan điểm này cho rằng ngân sách nhà nước không cần cân bằng hàng năm mà nên cân bằng theo chu kỳ, vì nền kinh tế phát triển theo chu kỳ, có thời kỳ tăng trưởng, có thời kỳ suy thoái.
Theo quan điểm này thì nó được áp dụng trong giai đoạn phồn thịnh hay nền kinh tế đang tăng trưởng và việc cân bằng ngân sách nên theo chu kỳ tức là trong ngắn hạn nên biện pháp tài trợ thâm hụt NS phù hợp sẽ là: giảm chi tiêu công, tăng thuế và kiện toàn hệ thống thuế, vay nợ.
Tăng thuế và kiện toàn hệ thống thu: điều chỉnh tăng thuế suất; hướng đến cải cách các sắc thuế, mở rộng diện chịu thuế, kiện toàn và nâng vao hiệu quả công tác hành thu nhằm chống thất thu thuế.
Ưu điểm:
+ tạo ra tính chủ động cho nhà nước;
+ tăng thuế thu nhập có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế.
Hạn chế:
+ Khi vượt qua giới hạn chịu đựng của nền kinh tế, tăng thuế suất trực thu sẽ làm giảm nguồn thu từ thuế của ngân sách nhà nước và thúc đẩy trốn thuế, lậu thuế.
+ không dễ áp dụng và rất tốn kém.
  1. Quan điểm thứ 3, ngân sách cố ý thiếu hụt: Vấn đề cân bằng ngân sách phải được giải quyết tùy thuộc vào thực trạng nền kinh tế và sự ảnh hưởng của chính sách thu, chi tài chính công tới nền kinh tế. Thâm hụt ngân sách cố ý sẽ mang lại hậu quả rất nguy hại là gây ra lạm phát. Nhưng những người theo quan điểm này lại cho rằng sự thúc đẩy hoạt động kinh tế đang trì trệ sẽ làm nhẹ gánh nặng của ngân sách.
Quan điểm này áp dụng phù hợp trong giai đoạn nền kinh tế đang suy thoái, biện pháp tài trợ thâm hụt NH phù hợp: giảm chi tiêu công, vay nợ (vay nợ nước ngoài), phát hành tiền.
-         Việc vay nợ trong giai đoạn này chỉ nên vay nợ nước ngoài còn việc vay nợ trong nước thực sự là không thích hợp. (bởi vì Nếu chính phủ huy động được nhiều tiền trong dân thì đương nhiên phần tiền còn lại dành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở khu vực ngoài quốc doanh sẽ giảm đi.

Như vậy, chưa biết chính phủ sẽ làm gì, làm như thế nào đối với lượng tiền huy động được, nhưng xã hội hay trực tiếp hơn là khu vực các doanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng có khả năng dành cho đầu tư phát triển kinh tế. Nếu các biện pháp thu hút tiền vay của chính phủ và của ngân hàng càng có lãi suất cao thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ các khu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà không chảy vào sản xuất kinh doanh. Do vậy, vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách luôn luôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Mục tiêu chấn hưng kinh tế của chính phủ thông qua con đường phát hành trái phiếu, tín phiếu... bị chính bản thân giải pháp này cản trở ngay từ nguồn gốc.)

-         Phát hành tiền giấy: phát hành thêm lượng tiền cơ sở.
Ưu điểm:
+ bù đắp ngân sách một cách nhanh chóng;
+ không gây ra gánh nặng nợ cho quốc gia.
Hạn chế:
+ chứa đựng nguy cơ lạm phát, gây tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế và xã hội.

III. Giải pháp phù hợp với VN hiện nay.
     Hiện nay nền kinh tế của chúng ta đang trong giai đoạn thoát ra khỏi tình trạng suy thoái, như vậy có thể ngầm hiểu rằng chúng ta đang theo quan điểm thứ 3 về cân đối NSNN. Do đó giải pháp phù hợp được đưa ra là: giảm chi tiêu công, vay nợ (vay nợ nước ngoài).
Cụ thể việc giảm chi tiêu công:
-         Chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư.
-         Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết như chi lương, chi mua sắm trang thiết bị cho bộ máy quản lý hành chính.
Về việc vay nợ:
-         Vay nợ nước ngoài: nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước ngoài, các định chế tài chính thế giới như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc tế...
Hiện nay, VN nhận viện trợ chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA.
Ngoài ra:
-         Yêu cầu minh bạch: Chính phủ cần minh bạch hơn, rạch ròi hơn về chi tiêu cho lĩnh vực công, làm rõ hiệu quả đầu tư, tách bạch hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, ngăn chặn chi tiêu công theo kiểu “tiền chùa”. Việc công khai, minh bạch chi tiêu ngân sách sẽ giúp lập dự toán ngân sách hợp lý, loại bỏ được các khoản không thực sự cần thiết.
-         Cần phân biệt giữa hỗ trợ và đầu tư, kiên quyết loại bỏ các chính sách hỗ trợ tín dụng qua các kênh ngân hàng chính sách, bởi một khi chính sách còn mập mờ, như các chương trình mục tiêu quốc gia, thì hiệu quả đầu tư sẽ rất thấp, là khoảng trống cho tham nhũng phát triển.




(Sưu tầm)
T/g : trungpn92@gmail.com


<<==Xem đề tài trước                                                                       Xem đề tài tiếp theo==>>