18 April, 2012


Đề kiểm tra Tài chính học

Cô Nguyễn Thanh Huyền Ca1 thứ 4

Phần 1 trắc nghiệm chọn 1 câu đúng duy nhất

1.      Phân loại theo đối tượng đánh thuế các sắc thuế bao gồm?
a.      thuế tài sản(1)
b.      thuế thu nhập(2)
c.      thuế tiêu dung
d.      thuế tiêu dung (1)(2)
2.Chọn câu sai. Cân đối ngân sách cố ý thiếu hụt thuộc quan niệm mấy?
a. thứ 2
b. thứ 3
c. thứ 2 và 3
b. thứ 1
3. NH nào hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận
a. NH đầu tư
b. NH tiết kiệm
c. NH phát triển
d. NH chính sách
4. Thuế thu nhập DN được tính theo
a. Thu nhập chịu thuế(1)
b. Thu nhập tính thuế(2)
c Thuế suất và (2)
d. thuế suát và (1)
5. Công cụ Tài chính nào không phải trên thị trường tiền tệ
a. Cổ phiếu
b. Trái phiếu
c. Hợp đồng mua lại
d. Hợp đồng hoán đổi
6. Câu nào sai. Biện pháp khắc phục thâm hụt NS trong ngắn hạn là
a. Giảm chi
b. phát hành tiền giấy
c. tăng thuế
d. Vay nợ
7. vai trò thứ 2 của trung gian tài chính
a. Giảm CP giao dịch
b. giảm CP thong tin
c. cả a và b
d. giảm rủi ro
8. Chức năng thứ 3 của HTTC
a. sang lọc chuyển giao phân tán rủi ro
b. Giám sát QT phân bổ nguồn TC
c.
d.
9. Điều kiện định hướng cho sự ra đời của tài chính
a. sự ra đời của NN
b.
c.
d.
10.Nguyên nhân khách quan dẫn đến thâm hụt NS
a. Dân số tăng
b
c
d.

Phần 2. trả lời Đúng Sai. Giải thích ngắn gọn
1.      Chi dự trữ NN nằm trong chi đầu tư phát triển.
2.      Nh đầu tư hoạt động giống NHTM
3.      Nguồn TC là của cải trong XH được thể hiện bằng giá trị
4.      Thuế GTGT là loại thuế gián thu
5.      TGTC là nơi mua bán quyền sử dụng nguồn tài chính

Phần 3 Sử dụng CS tài chính công VN từ 2009 đến nay để CM vai trò điều tiết kinh tế của TC công.

Đề kiểm tra này m viết lại theo trí nhớ của m. Chắc chắn sẽ có sai sót so với bản gốc nhưng đại loại các câu hỏi là như thế. Mọi người tham khảo và làm bài thi tốt nha.

Good luck to you!!!

16 April, 2012

Đề tài 6. Những quan niệm cân đối ngân sách nhà nước và giải pháp bù đắp thâm hụt ngân sách và đề xuất giải pháp phù hợp nhất với tình hình Việt Nam hiện nay





Những quan niệm cân đối NSNN 
và giải pháp bù đắp thâm hụt NS

I. Khái niệm:
-         Ngân sách nhà nước: là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
-         Thâm hụt ngân sách: Thâm hụt ngân sách nhà nước là tình trạng các khoản thu ngân sách nhỏ hơn các khoản chi. Thâm hụt ngân sách được thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm so với GDP.

II. Các quan điểm về cân đối NSNN:
  1. Quan điểm thứ nhất: NSNN phải cân bằng hàng năm tức là tổng số chi không được vượt quá tổng số thu.
Biện pháp tài trợ phù hợp theo quan điểm này: giảm chi tiêu công, vay nợ.
a) Giảm chi tiêu công: cắt hoặc giảm các khoản chi kém hiệu quá hoặc chưa thật sự cần thiết. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công.
Ưu điểm:
+ phù hợp cho cả mục tiêu ngắn hạn và dài hạn;
+ dễ dàng thực hiện vì nằm trong quyền quyết định của CP;
+ không tạo gánh nặng nợ cho quốc gia.
Hạn chế:
+ có giới hạn, không thể giảm chi quá nhiều;
+ dễ gây ra sự phản ứng tiêu cực từ công chúng.
b) Vay nợ:
Vay trong nước: bằng việc phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc nhà nước, trái phiếu đầu tư.
Ưu điểm:
+ duy trì việc giảm thâm hụt ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế.
+ Tập chung được khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư; tránh được nguy cơ khủng hoảng nợ nước ngoài; dễ triển khai.
Hạn chế:
+ chứa đựng nguy cơ kìm hãm sự phát triển của các hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế.
+ việc trả lãi trong tương lai tạo ra một gánh nặng nợ cho chính phủ (trừ khi những thâm hụt ngân sách nhà nước này bắt nguồn từ việc chi tiêu cho các dự án đầu tư có sức sinh lời).
Ở Việt Nam, Chính phủ thường uỷ nhiệm cho Kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức: tín phiếu kho bạc; trái phiếu kho bạc; trái phiếu công trình.
          Vay nợ nước ngoài: có thể được thực hiện vay từ chính phủ các nước, các tổ chức tài chính quốc tế hoặc phát hành trái phiếu quốc tế.
Ưu điểm:
+ không gây sức ép lạm phát cho nền kinh tế;
+ nguồn vốn với quy mô lớn, lãi suất ưu đãi.
Hạn chế:
+ gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu của chính phủ.
+ dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài; có thể phải nhượng bộ trước những yêu cầu từ phía nhà tài trợ.
          Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cung cấp cho chính phủ của một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA.
Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoaị tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng... 
  1. Quan điêm thứ 2, lý thuyết về ngân sách chu kỳ: Quan điểm này cho rằng ngân sách nhà nước không cần cân bằng hàng năm mà nên cân bằng theo chu kỳ, vì nền kinh tế phát triển theo chu kỳ, có thời kỳ tăng trưởng, có thời kỳ suy thoái.
Theo quan điểm này thì nó được áp dụng trong giai đoạn phồn thịnh hay nền kinh tế đang tăng trưởng và việc cân bằng ngân sách nên theo chu kỳ tức là trong ngắn hạn nên biện pháp tài trợ thâm hụt NS phù hợp sẽ là: giảm chi tiêu công, tăng thuế và kiện toàn hệ thống thuế, vay nợ.
Tăng thuế và kiện toàn hệ thống thu: điều chỉnh tăng thuế suất; hướng đến cải cách các sắc thuế, mở rộng diện chịu thuế, kiện toàn và nâng vao hiệu quả công tác hành thu nhằm chống thất thu thuế.
Ưu điểm:
+ tạo ra tính chủ động cho nhà nước;
+ tăng thuế thu nhập có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế.
Hạn chế:
+ Khi vượt qua giới hạn chịu đựng của nền kinh tế, tăng thuế suất trực thu sẽ làm giảm nguồn thu từ thuế của ngân sách nhà nước và thúc đẩy trốn thuế, lậu thuế.
+ không dễ áp dụng và rất tốn kém.
  1. Quan điểm thứ 3, ngân sách cố ý thiếu hụt: Vấn đề cân bằng ngân sách phải được giải quyết tùy thuộc vào thực trạng nền kinh tế và sự ảnh hưởng của chính sách thu, chi tài chính công tới nền kinh tế. Thâm hụt ngân sách cố ý sẽ mang lại hậu quả rất nguy hại là gây ra lạm phát. Nhưng những người theo quan điểm này lại cho rằng sự thúc đẩy hoạt động kinh tế đang trì trệ sẽ làm nhẹ gánh nặng của ngân sách.
Quan điểm này áp dụng phù hợp trong giai đoạn nền kinh tế đang suy thoái, biện pháp tài trợ thâm hụt NH phù hợp: giảm chi tiêu công, vay nợ (vay nợ nước ngoài), phát hành tiền.
-         Việc vay nợ trong giai đoạn này chỉ nên vay nợ nước ngoài còn việc vay nợ trong nước thực sự là không thích hợp. (bởi vì Nếu chính phủ huy động được nhiều tiền trong dân thì đương nhiên phần tiền còn lại dành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở khu vực ngoài quốc doanh sẽ giảm đi.

Như vậy, chưa biết chính phủ sẽ làm gì, làm như thế nào đối với lượng tiền huy động được, nhưng xã hội hay trực tiếp hơn là khu vực các doanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng có khả năng dành cho đầu tư phát triển kinh tế. Nếu các biện pháp thu hút tiền vay của chính phủ và của ngân hàng càng có lãi suất cao thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ các khu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà không chảy vào sản xuất kinh doanh. Do vậy, vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách luôn luôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Mục tiêu chấn hưng kinh tế của chính phủ thông qua con đường phát hành trái phiếu, tín phiếu... bị chính bản thân giải pháp này cản trở ngay từ nguồn gốc.)

-         Phát hành tiền giấy: phát hành thêm lượng tiền cơ sở.
Ưu điểm:
+ bù đắp ngân sách một cách nhanh chóng;
+ không gây ra gánh nặng nợ cho quốc gia.
Hạn chế:
+ chứa đựng nguy cơ lạm phát, gây tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế và xã hội.

III. Giải pháp phù hợp với VN hiện nay.
     Hiện nay nền kinh tế của chúng ta đang trong giai đoạn thoát ra khỏi tình trạng suy thoái, như vậy có thể ngầm hiểu rằng chúng ta đang theo quan điểm thứ 3 về cân đối NSNN. Do đó giải pháp phù hợp được đưa ra là: giảm chi tiêu công, vay nợ (vay nợ nước ngoài).
Cụ thể việc giảm chi tiêu công:
-         Chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư.
-         Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết như chi lương, chi mua sắm trang thiết bị cho bộ máy quản lý hành chính.
Về việc vay nợ:
-         Vay nợ nước ngoài: nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước ngoài, các định chế tài chính thế giới như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc tế...
Hiện nay, VN nhận viện trợ chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA.
Ngoài ra:
-         Yêu cầu minh bạch: Chính phủ cần minh bạch hơn, rạch ròi hơn về chi tiêu cho lĩnh vực công, làm rõ hiệu quả đầu tư, tách bạch hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, ngăn chặn chi tiêu công theo kiểu “tiền chùa”. Việc công khai, minh bạch chi tiêu ngân sách sẽ giúp lập dự toán ngân sách hợp lý, loại bỏ được các khoản không thực sự cần thiết.
-         Cần phân biệt giữa hỗ trợ và đầu tư, kiên quyết loại bỏ các chính sách hỗ trợ tín dụng qua các kênh ngân hàng chính sách, bởi một khi chính sách còn mập mờ, như các chương trình mục tiêu quốc gia, thì hiệu quả đầu tư sẽ rất thấp, là khoảng trống cho tham nhũng phát triển.




(Sưu tầm)
T/g : trungpn92@gmail.com


<<==Xem đề tài trước                                                                       Xem đề tài tiếp theo==>>

Đề tài 5: Phân tích vai trò điều tiết vĩ mô về mặt XH của TCC. Chứng minh bằng thực tế VN những năm gần đây( từ 2008 đến nay).



Vai trò điều tiết vĩ mô về mặt XH của TCC


I.Khái niệm TCC.
·        Xét về hình thức: TCC là các hoạt động thu, chi tiền tệ của nhà nước gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu thực hiện chức năng của nhà nước trong việc cung cấp HH công cho XH.
·        Về thực chất, TCC phản ánh các quan hệ kinh tế trong phân phối nguồn tài chính quốc gia phát sinh giữa các cơ quan công quyền của nhà nước với các chủ thể khác trong nền kinh tế nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho XH không vì mục tiêu lợi nhuận.


II. Vai trò của TCC.
Vai trò của TCC luôn gắn liền với vai trò của nhà nước trong từng thời kì nhất đinh. Có thể xem xét vai trò của TCC trên các khía cạnh:
·        Thứ nhất, đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước.
·        Thứ hai, điều tiết vĩ mô hoạt động kinh tế xã hội.
Việc sử dụng TCC để thực hiện được các mục tiêu vĩ mô rất linh hoạt ở mỗi quốc gia và mỗi thời kì nhưng nhìn chung,TCC được sử dụng để điều tiết các hoạt động KT-XH trên các mặt:
·        Về kinh tế:………………………………………………………….
·        Về xã hội: TCC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội. thông qua việc sử dụng các công cụ thu, chi của TCC để điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giảm bớt những bất hợp lí trong phân phối và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội đáp ứng các mục tiêu xã hội của kinh tế vĩ mô.


1. Thực hiện công bằng XH.
Kinh tế càng tăng trưởng, chênh lệch thu nhập giữa các dân cư, các vùng miền ngày càng gia tăng. Để thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt k/c giàu nghèo chính phủ sử dụng TCC thông qua công cụ thuế và chi TCC.
Thuế trực thu mà cụ thể là thuế thu nhập cá nhân lũy tiến từng phần có vai trò điều tiết mạnh thu nhập của những người có thu nhập cao và điều tiết ở mức hợp lý đối với các cá nhân có thu nhập trung bình hoặc thấp. Bên cạnh đó thuế gián thu như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng,thuế xuất nhập khẩu có vai trò điều tiết thu nhập thực tế có khả năng thanh toán của dân cư bằng việc đánh thuế cao với hàng hóa dịch vụ cao cấp, đánh thuế thấp với các mặt hàng dịch vụ thiết yếu đảm bảo đời sống dân cư.
Liên hệ: chính sách thuế năm 2009 có nhiều đỏi mới tích cực phù hợp với tình hình KT-XH nước ta:
v    Đánh thuế thu nhập cá nhân với biểu thuế mới về thu nhập cá nhân lũy tiến từng phần. mở rộng diện điều tiết 1 cách hợp lí trên cơ sở bổ sung một số khoản thu nhập chịu thuế, thu  nhập từ casino, trúng thưởng, thu nhập từ đầu tư và chuyển nhượng vốn.
v    Điều chỉnh thuế suất theo hướng giảm thuế suất cao nhất, thấp nhất và tăng bậc thuế suất, thống nhất biểu thuế đối với người Việt Nam và người nước ngoài.
v    Không đánh thuế GTGT với 25mặt hàng và dịch vụ nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh như sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến, muối biển, dịch vụ cấp tín dụng, kinh doanh chứng khoán, chuyển nhượng vốn … những hàng hóa phục vụ sx nông nghiệp có mức thuế suất 5%,hàng hóa dịch vụ thông thường 10%.
v    Đánh thuế TTĐB với các hàng hóa dịch vụ xa xỉ có hại cho sức khỏe như thuốc lá, xì gà,rượu bia,…có ảnh hưởng xấu đến môi trường như xe ô tô dưới 24 chỗ ngồi, tàu bay, du thuyền, xăng các loại,vàng mã,..v…v
=> kết quả:
ü     Diện chịu thuế đựợc mở rộng với mức thuế suất không có nhiều thay đổi đáng kể góp phần ổn định XH.
ü     Đảm bảo thực hiện các mục tiêu công bằng XH
ü     Giảm khoảng cách giàu nghèo, phân phối lại thu nhập.

Chi TCC với chính sách trợ cấp trợ giá chi các chương trình mục tiêu sẽ làm giảm bớt khó khăn của người nghèo những người thuộc diện chính sách đối tượng khó khăn… thường phát huy tác dụng cao vì đối tượng được hưởng rất dễ xác định. Chính sách trợ giá nếu không cẩn trọng sẽ dẫn đến tình trạng không công bằng giữa những người có thu nhập cao và thu nhập thấp.
 Tuy nhiên điều tiết thu nhập của dân cư cần chú ý duy trì mức độ chênh lệch vừa phải để tạo điều kiện cho các cá nhân có thu nhập chính đáng được hưởng thu nhập của mình, không cao bằng thu nhập thông qua phân phối tài chính.
VD: trong thời gian gần đây chính phủ có một số chính sách trợ giá cho một số mặt hàng thiết yếu như gas, lương thực để giá cả ổn định, khuyến khích tiêu dùng thời kì bão giá.
2. Giải quyết các vấn đề XH
Cùng với vai trò điều chỉnh thu nhập, TCC còn góp phần giải quyết các vấn đề XH như:
v    Ổn định XH trước những rủi ro bất ngờ do thiên tai, dịch bệnh thông qua các khoản chi dự trữ của nhà nước.
v    Phát triển các dịch vụ công cộng phát triển cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân thông qua các khoản chi đầu tư xây dựng kết cấu CSHT, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, xây dựng hệ thống quản lí,…
v    Đặc biệt là tài trợ cho các chương trình chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, phòng chống các tệ nạn XH, hỗ trợ cho giải quyết việc làm…
Liên hệ:
v    Năm 2010, TP.HCM trợ giá xe buýt 700 tỷ đồng tăng hơn năm 2009 là 100 tỉ đồng. Hà Nội trợ giá gía gần 339 tỉ đồng cho xe buýt.
v    Ngày 12/9/2008, chính phủ đã ban hành Nghị định 101/2008/NĐ-CP điều chỉnh tăng lương hưu nói chung và trợ cấp bảo hiểm XH và trợ cấp hàng tháng đới với cán bộ xã phường đã nghỉ việc thêm 15% từ ngày 1/10 tới.
v    Năm 2009, chính sách xóa đói giảm nghèo này được triển khai tại 51 địa phương với gần 500.000 hộ dân được thụ hưởng tổng kinh phí lên tới trên 9000 tỷ.
v    Chi cho an sinh xã hội 22.470 tỷ đồng tăng 62% so với 2008
v    Trợ cấp cứu đói giáp hạt khác phục khắc phục thiên tai 41.580 tấn gạo.
v    Năm 2009, cùng với việc đảm bảo đủ nguồn lực tăng cường chỉ đạo thực hiện các chính sách, chương trình dự án ASXH mới như: hỗ trợ người nghèo ăn Tết và mất việc,trự cấp cho những cán bộ thu nhập thấp, triển khai chương trình giảm nghèo ở 62 huyện,…
=> Kết quả: tỷ lệ hộ nghèo giảm đến cuối 2009 còn khoảng 11 % đến 2010 chỉ còn 9,45%.
Ngân sách cho giáo dục năm 2009 là 63.226 tỷ đồng ,năm 2010 là 68.595 5 tỷ đồng (theo số liệu NSNN)
Cả nước đã có hơn 1900 cơ sở khám chữa bệnh cả công lập và ngoài công lập và khoảng 80% số trạm y tế xã phường có hợp đồng KBCB BHYT.


(Sưu tầm)

<<==Xem đề tài trước                                                                                    Xem đề tài tiếp theo==>>

Đề tài 3 : Sự cạnh tranh của các trung gian tài chính phi ngân hàng với ngân hàng thương mại. Liên hệ với Việt Nam


Sự cạnh tranh của các trung gian tài chính phi ngân hàng với ngân hàng thương mại

Sự khác nhau giữa các tổ chức trung gian tài chính phi ngân hàng với nhtm
Ngân hàng và các tổ chức trung gian tài chính khác đều có vai trò trung gian giữa người tiết kiệm và sử dụng vốn.
Ngân hàng thương mại
Tổ chức tài chính phi ngân hàng
Ngân hàng nhận tiền gửi và trả lãi cho người gửi tiền
Ngân hàng cho vay và tính lãi người đi vay
Là tổ chức nhận tiền gửi
Phải tạo lập dự trữ bắt buộc
Có chức năng trung gian thanh toán
Nhận phí bảo hiểm hoặc tiền góp của các thành viên
Đem tiền này đi đầu tư chứng khoán và chia lợi nhuận cho tv
Là tổ chức không nhận tiền gửi
Không cần tạo lập dự trữ bb
Không có chức năng trung gian tt

I, Hoạt động chính của ngân hàng thương mại
1. Huy động vốn
Ngân hàng huy động vốn dưới các hình thức sau:
a, Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
b, Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc NHNN chấp thuận.
c, Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài.
d, Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn.
e, Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN.
2. Hoạt động tín dụng
Ngân hàng cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN.
3. Các hình thức vay
Ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau đây:
a, Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
b, Cho vay trung hạn, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
4. Bảo lãnh
a, Ngân hàng bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác cho các tổ chức tín dụng, cá nhân theo quy định của NHNN.
b, Ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế được thực hiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác mà người nhận bảo lãnh là tổ chức cá nhân nước ngoài theo quy định của NHNN.
5. Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
a, Ngân hàng được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định pháp luật hiện hành. Người chủ sở hữu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác phải chuyển giao ngay mọi quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh từ các giấy tờ đó cho Ngân hàng.
b, Ngân hàng được cấp tín dụng dưới hình thức cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định pháp luật hiện hành. Ngân hàng được thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp phát sinh trong trường hợp chủ sở hữu các giấy tờ đó không thực hiện đầy đủ những cam kết trong hợp đồng tín dụng.
c, Ngân hàng được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác theo quy định pháp luật hiện hành.
d, Ngân hàng có thể được Ngân hàng Nhà nước tái chiết khấu và cho vay trên cơ sở cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đã được chiết khấu theo quy định pháp luật hiện hành.
6.Công ty cho thuê tài chính
Ngân hàng phải thành lập Công ty cho thuê tài chính khi hoạt động cho thuê tài chính.
7. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
a, Ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
-  Cung ứng các phương tiện thanh toán.
-  Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khác hàng.
-  Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
-  Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN.
-  Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép .
-  Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
b, Ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước. Tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
8.Các hoạt động khác
Ngân hàng thực hiện các hoạt động khác sau đây:
a, Dùng Vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật.
b, Góp vốn với tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tín dụng liên doanh tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.
c, Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN.
d, Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế khi được NHNN cho phép.
đ, Được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân  trong và ngoài nước theo hợp đông uỷ thác và đại lý.
e,Cung ứng dịch vụ bảo hiểm; được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
g, Cung ứng các dịch vụ:
-  Tư vấn tài chính và tiền tệ trực tiếp cho khách hàng hoặc qua các công ty trực thuộc được thành lập theo quy định của pháp luật
-  Bảo quản tài sản có giá trị và các giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, nhận cầm cố và các dịch vụ khác theo quy định của luật pháp.
h, Thành lập các công ty trực thuộc để thực hiện các hoạt động kinh doanh có liên quan tới hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật
* Với các hoạt động đa dạng và đáp ứng được nhu cầu về vốn của mình. Các ngân hàng TM đang thể hiện vai trò và vị thế nổi bật của mình so với các trung gian tài chính khác. Vậy các Tổ chức TGTCPNH sẽ có những hoạt động j để có thể cạnh tranh NHTM ? Sau đây, ...

II, Các hoạt động của tổ chức TGTCPNH và sự cạnh tranh với NHTM
1, Công ty tài chính
Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm.
*Cơ hội cạnh tranh của các công ty tài chính
Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì công ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty.
rủi ro xảy ra đối với các công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng. Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là không lớn.
Một trong những hạn chế của các công ty tài chính so với các tổ chức ngân hàng là không được làm dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 1 năm. Tuy vậy, các công ty tài chính hiện nay đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn,...v.v. cho cả ngắn hạn, trung và dài hạn. Những dịch vụ này đã giúp công ty tài chính thực hiện được các dịch vụ khác tương tự như một ngân hàng thương mại.
Có thể thấy lợi ích của công ty tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn. Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các tập đoàn lớn thường có ít nhất một công ty tài chính. Công ty tài chính là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất. Trong phạm vi nội bộ tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, công ty tài chính có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư. Với tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn.
Với lợi nhuận hấp dẫn và có thể kiểm soát được rủi ro, công ty tài chính đang được mở rộng quy mô và số lượng hoạt động và đóng góp không nhỏ vào lỗ hổng thiếu hụt tài chính do thiếu khả năng cung ứng của các ngân hàng thế giới.
> Tại Việt Nam, hiện có tới 17 công ty tài chính, phần lớn thuộc các tập đoàn kinh tế Nhà nước. Các công ty tài chính thường trực thuộc những Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước như: Công ty tài chính công nghiệp Tàu thủy, Công ty tài chính Điện lực, công ty tài chính xi măng, công ty tài chính Than khoáng sản Việt nam, công ty tài chính Cổ phần Dầu khí…
Ưu điểm của các công ty tài chính là mang lại một nguồn vốn lớn dài hạn, cung ứng cho nhiều dự án lớn trọng điểm. Tuy nhiên ở Việt Nam, các công ty tài chính lại trực thuộc các tập đoàn mà các tập đoàn này về bản chất là sử dụng vốn của Nhà nước.
Năm 2008 khi các Tập đoàn công bố báo cáo tài chính thì hầu hết các ngành nghề chính đều thua lỗ trong khi phần thu lãi lại xuất phát từ đầu tư tài chính. Trong khi đó, các Tổng công ty tập đoàn có vốn nhà nước thường xuyên “kêu” thiếu vốn đầu tư cho các dự án thì vẫn thành lập ra hàng loạt các công ty tài chính để nhằm mục đích đầu tư tài chính.
2, Quỹ đầu tư tương hỗ
Các quỹ này thu hút được các nhà đầu tư vốn ít nhỏ lẻ, các cá nhân có ít tiền tiết kiệm muốn sinh lợi cho những đồng tiền của họ. Họ bỏ vốn vào quỹ, những người quản lý dùng đầu tư vào chứng khoán lãi suất cao. Rồi lại dùng chứng khoán lãi suất cao này làm đảo bảo để phát hành hoặc mua đi bán lại chứng khoán ngắn hạn khác. Lợi tức được chia theo tháng hoặc nửa năm 1 lần và cao hay thấp là phụ thuộc vào kết quả kinh doanh.
Các quỹ này chiếm một mảng lớn tiền nhàn rồi trong nên kinh tế và vận động nó vào thị trường tài chính. Nó đóng góp khá quan trọng trong việc lôi cuốn những người dân ít tiền nhất, lơi tức dư không nhiều, thu nhập thấp vào những dịch vụ đầu tư vừa làm lợi cho chính họ vừa tạo vốn luân chuyển cho sản xuất và trao đổi.
Quỹ tương hỗ đã ngày càng trở nên phổ biến trong vòng 20 năm qua. Phương thức đầu tư vốn chẳng mấy được chú ý này bỗng trở nên vô cùng hấp dẫn. Khoảng hơn 80 triệu người Mỹ, và một nửa số hộ gia đình đầu tư vào các quỹ tương hỗ.
Lợi thế mua/bán số nhiều – vì rằng quỹ tương hỗ thường mỗi lần mua và bán chứng khoán với số lượng lớn, nên chi phí giao dịch thường thấp hơn mức mà nhà đầu tư cá nhân phải trả cho các giao dịch chứng khoán.
Tính thanh khoản – cũng giống như các loại chứng khoán khác, quỹ cũng cho phép bạn bán chứng chỉ quỹ để thu vốn về bất kỳ lúc nào. 
Đơn giản – mua (cổ phần) chứng chỉ quỹ rất dễ dàng! Gần như tất cả các ngân hàng đều có lập một số quỹ đầu tư tương hỗ và quy định mức đầu tư tối thiểu thông qua quỹ không quá lớn. Hầu hết các công ty quản lý quỹ cũng đưa ra các chương trình đăng ký mua tự động cho phép các khoản thu nhập nhỏ đến mức 100 đô la Mỹ có thể tham gia đầu tư hàng tháng.
Tuy nhiên, Tại Việt Nam quỹ này còn chưa có hoặc có nhưng rất ít ( Chưa chắc chắn, mọi ng về tìm thêm tài liệu)

3, Các công ty bảo hiểm

Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố. Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường.
Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm.
Hầu hết các công ty bảo hiểm sinh mạng đểu có khuynh hướng dùng tiền bảo hiểm để đầu tư dài hạn, thí dụ như chứng khoán, hoặc cho vay cầm cố. Bởi vì số lượng người tử vong hoặc chết hàng năm thường không nhiều. Tuy nhiên các công ty bảo hiểm tài sản như xe cộ, nhà cửa và các phương tiện khác thì tình hình lại khác. Những tai nạn, cháy nổ, trộm cắp xảy ra thường xuyên nên các công ty này rất ít dám dùng vốn đầu tư vào những tài sản lâu dài. Thông thường họ chỉ dám đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn và các loại tài sản dễ thanh khoản
Vậy các công ty bảo hiệm huy động vốn bằng những vốn tiết kiệm trong dân cư để mang ra đầu tư, và việc đầu tư của các cty bảo hiểm này có tính rủi ro khá cao. Ngoài ra vốn huy động từ bảo hiểm có tính chu kỳ, không linh hoạt. Khó có thể so sánh được với sự linh hoạt đến chộp giật của các ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên Mấy năm gần đây ngân hàng và các công ty bảo hiểm đã liên kết chặt chẽ với nhau thông qua hoạt động  Bancassurance. Đây là kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm hiệu quả, cạnh tranh mạnh mẽ với kênh phân phối truyền thống (thông qua các đại lý bảo hiểm là các ngân hàng). Thông qua các hoạt động này, hình ảnh của các ngân hàng và công ty bảo hiểm được quảng bá mạnh hơn.
Tại Việt Nam đã có một số doanh nghiệp phát triển khá thành công trên kênh phân phối này, tiêu biểu như : Liên kết Bảo Việt nhân thọ-Techcombank: là một trong các liên kết ngân hàng và bảo hiểm ở Việt Nam cho ra đời các sản phẩm Bancassurance đầu tiên. Vào ngày 01/08/2006 hai bên đã ký kết hợp tác cho ra đời hai sản phẩm là “Tài khoản tiết kiệm giáo dục” và “ Tín dụng cho nhà mới và ô tô xịn”. Ngày 20/11/2007 Bảo Việt và Techcombank tiếp tục triển khai 2 sản phẩm mới là sự kết hợp “An tâm tiêu dùng” của Bảo Việt và “Cho vay tiêu dùng trả góp” và “Cho vay trả góp mua hàng” của Techcombank. Việc chính thức ra mắt các sản phẩm Bancassurance mới này đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động Bancassurance giữa Techcombank và Bảo Việt Nhân thọ.
Nước ngoài hệ thống các công ty bảo hiểm rất phổ biến và hoạt động rất mạnh, đặc biệt là về bảo hiểm nhân thọ do Bảo hiểm này có thể giảm được gánh nặng cho bảo hiểm xã hội nên được nhà nước ủng hộ rất nhiệt tình.
 VN chỉ có một vài công ty bảo hiểm. Hoạt động chính vẫn là công ty bảo hiểm Việt Nam ( Bảo Việt), cty bảo hiểm TPHCM (Bảo Minh), những doanh nghiệp nhà nước và một số công ty bảo hiểm nước ngoài như Prudential, Manulife …Nhưng cường độ hoạt động, mức độ phát triển tải sản nợ, có cũng như phương thức hoạt động còn rất chậm so với nước ngoài. Sự phát triển của tài chính trong tương lai tất yếu sẽ đòi hỏi nhiều tổ chức tài chính khác có mặt. Trong đó, sự hình thành các công ty bảo hiểm tư nhân sẽ là điều kiện cần thiết, không những tốt cho thị trường tài chính mà còn củng cố và phát triển ngành bảo hiểm VN.
4, Quỹ trợ cấp hưu trí
Quỹ hưu trí là một trung gian tài chính đêm lại cho người gửi một cơ hội đa dạng hóa danh mục đầu tư các tài sản tài chính. Nguồn vốn của quỹ này 100% là lương hưu và trợ cấp của công nhân. Vì lương hưu và trợ cấp hàng tháng là một con số hầu như có thể xác định được và rất định kỳ. cho nên phần lớn vốn sẽ đầu tư vào chứng khoán dài hạn để tạo lãi suất cao. Các quỹ này có nhiều điểm tương đồng với các công ty bảo hiểm sinh mạng.
Tại Việt Nam, Nguồn tài chính nhàn rỗi của bảo hiểm xã hội được sử dụng đầu tư nhằm làm tăng khả năng chi trả của quỹ. Và được thực hiện theo nguyên tắc: an toàn, hiệu quả và thu hồi được vốn khi cần thiết. chính vì vậy nguồn vốn nhàn rỗi chỉ được đầu tư vào các lĩnh vực như mua trái phiếu chính phủ hoặc cho ngân hàng thương mai vay, đầu tư vào các công trình trọng điểm quốc gia hoặc đầu tư khác do Chính phủ quyết định L
Hình thức hoạt động của quỹ này không thay đổi nhiều so với thời gian về trước và phần lương hưu đước trả từ quỹ cũng nhỏ nên các loại quỹ này không được phát triển nhiều. Do không thể cạnh tranh được với các hình thức đầu tư khác, đặc biệt là với ngân hàng thương mại bây giờ.

5, Công ty kinh doanh và môi giới chứng khoán
Ngoài các TGTCPNH trên còn có 1 số trung gian khác như:
* Các hiệp hội tín dụng và cho vay
* Các tổ chức tín dụng hợp tác
* Cty đầu tư mạo hiểm
Tuy nhiên 2 tổ chức đầu hoạt động mang tính tương trợ cao ( lãi suất cho vay và lãi suất trả tiền gửi thấp, tính an toàn cao) sẽ không cạnh tranh được với các ngân hàng thương mại. Các công ty đầu tư mạo hiểm được thành lập trên 1 tập đoàn lớn. Cho nên phần vốn ban đầu cũng phụ thuộc vào việc làm ăn của tập đoàn đó. Giả sử nếu không có cty nào mới thành lập để vay thì cty đầu tư mạo hiểm sẽ quay vốn về cho tập đoàn để sản xuất kinh doanh. Ngoài ra các cty mới thành lập rất khó vay được từ các cty đầu tư mạo hiểm(2%). Vậy chúng ta có thể thấy cty đầu tư mạo hiểm không cần cạnh tranh với NHTM


<<==Xem đề tài trước                                                                                   Xem đề tài tiếp theo ==>>>