14 April, 2012

Công cụ hệ thống tài chính


Công cụ hệ thống tài chính

1.Khái niệm

Công cụ tài chính là các công cụ được sử dụng để giao dịch trên thị trường tài chính.
- Dòng tiền tệ được coi là công cụ trao đổi hữu hiệu nhất.
Tiền tệ trở thành nguồn tài chính vừa có chức năng phục vụ, thúc đẩy quá trình trao đổi vừa có chức năng dự trữ giá trị để phân tán rủi ro đặc biệt trong trường hợp mức sinh lời của các tài sản tài chính có nguy cơ trở về không hoặc âm.

- Tuy nhiên, bên cạnh đó, người nắm giữ tiền phải đối mặt với nguy cơ mất giá.Mất giá tiền là điểm tiêu cực lớn nhất của tiền.(Hiện tượng khối lượng tiền trong nền kinh tế tăng quá mức so với nhu cầu đòi hỏi). Khi đó giá trị của tiền giảm đi, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền tăng lên, người đầu tư sẽ chuyển sang nắm giữu các tài sản khác. 

Sự dịch chuyển tài sản tiền tệ sang tài sản khác và ngược lại thể hiện bản chất của người đầu tư trong việc sử dụng các công cụ tài chính

2. Phân loại 
Công cụ tài chính được chia làm 2 loại:
Công cụ trên thị trường tiền tệ 
Công cụ trên thị trương chứng khoán.

A- Công cụ trên thị trường tiền tệ

1) Tín phiếu
-Tín phiếu một loại giấy vay nợ ngắn hạn do chủ thể có uy tín phát hành.
- Chúng có tính thanh khoản cao, được phát hành dưới hình thức tín chỉ hoặc bút toán ghi sổ, song, hầu hết ở dạng ghi sổ. 
- Đây là công cụ chiết khấu điển hình, không có phiếu lãi suất.
- Tín phiếu có mức rủi ro thấp nhất trong các công cụ trên thị trường tiền tệ.
Thu nhập từ tín phiếu (chênh lệch giữa giá mua và giá bán hoàn trả) không bị đánh thuế vì chúng không được coi là tài sản vốn. Thời hạn của tín phiếu thường là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm với một hay nhiều mức mệnh giá phát hành thông qua các hình thức đấu thầu hoặc phát hành trực tiếp qua kho bạc, đại lý trên thị trường thứ cấp.
Tín phiếu kho bạc được phát hành ở mức chiết khấu của mệnh giá và được kho bạc chuộc lại ở kỳ hạn thanh toán với các mệnh giá. Ví dụ mua tín phiếu kho bạc 900$ sau một năm sẽ được thanh toán bằng giá trị ghi trên tín phiếu là 1000$.
- Căn cứ vào chủ thể phát hành, người ta chia tín phiếu thành 2 loại

a)Tín phiếu kho bạc nhà nước:
+ Do nhà nước phát hành
+ Nhằm bù đắp chi tiêu thiếu hụt tạm thời của Ngân hàng Nhà nước.
+ Thời hạn ngắn (có thể 3,6 hoặc 9 tháng) nên độ an toàn cao. Tuy nhiên lợi nhuận mang lại cho nhà đầu tư thấp hơn nhiều so với các công cụ tài chính khác.
Đây là loại hàng hoá chủ yếu của OMO (Lãi suất trên thị trường mở) ở hầu hết thị trường mở các nước vì một số lý do sau: (i) Có tính thanh khoản cao, (ii) Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và đáp ứng nhu cầu can thiệp của NHTW với mức độ và quy mô khác nhau.
Việc sử dụng tín phiếu kho bạc trong OMOcó một số ưu điểm nhất định. Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếu NHTW để thực hiện CSTT thắt chặt thì gánh nặng về thực hiện CSTT sẽ chuyển sang ngân sách và được thể hiện rõ ràng trên số liệu ngân sách. Mặt khác khi thị trường tiền tệ chưa phát triển, số dư tín phiếu kho bạc lại khá lớn thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để thực hiện CSTT sẽ giảm rủi ro của việc phân tách thị trường.

b)Tín phiếu ngân hàng nhà nước:
+ Do Ngân hàng nhà nước phát hành.
+ Là công cụ để thực hiện chích sách tiền tệ quốc gia
+ Mệnh giá lớn, chủ thể tham gia thị trương này chủ yếu là các trung gian tài chính.
Các công cụ này trở thành hàng hóa đóng vai trò quan trọng nhất trong nghiệp vụ thị trường mở để ngân hàng trung ương điều tiết cung cầu tiền tệ.
Tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng 

c. Quá trình phát hành tín phiếu
Tín phiếu kho bạc được phát hành trên thị trường sơ cấp trên cơ sở đấu thầu. Tại Việt Nam, các tổ chức tham gia đấu thầu thường là các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm thỏa mãn một số quy định trong đó quan trọng nhất là phải có vốn pháp định bằng hoặc cao hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước. Các phiếu đặt thầu bao gồm thông tin về lãi suất và khối lượng tín phiếu đặt thầu. Việc xác định khối lượng và lãi suất trúng thầu của tín phiếu kho bạc được dựa vào khối lượng và lãi suất đặt thầu của các thành viên, và khối lượng tín phiếu kho bạc chính phủ muốn huy động. Khối lượng tín phiếu kho bạc trúng thầu được tính theo thứ tự tăng lên của lãi suất đặt thầu.

Tại mức lãi suất đặt thầu cao nhất, mà khối lượng tín phiếu đặt thầu vượt quá khối lượng dự kiến huy động, thì khối lượng tín phiếu trúng thầu sẽ được phân chia cho mỗi phiếu đặt thầu, tỷ lệ thuận với khối lượng tín phiếu đặt thầu của từng phiếu tại mức lãi suất đó. Lãi suất phát hành tín phiếu là lãi suất trúng thầu cao nhất được áp dụng chung cho tất cả các đối tượng trúng thầu.
Ở một số quốc gia (trong đó có Việt Nam), chính phủ đưa ra lãi suất chỉ đạo trong quá trình đấu thầu và lãi suất trúng thầu không được vượt quá lãi suất chỉ đạo này. Lãi suất chỉ đạo được áp dụng để giới hạn mức lãi tối đa mà chính phủ phải trả cho tín phiếu kho bạc huy động, nhưng khi áp dụng biện pháp này thì chính phủ có thể không huy động được đủ khối lượng tín phiếu mong muốn.
d. Định giá tín phiếu
Tín phiếu kho bạc là loại tín phiếu chiết khấu. Điều đó có nghĩa là, tín phiếu được bán thấp hơn mệnh giá và thanh toán theo mệnh giá khi đáo hạn, chứ không trả lãi theo định kỳ. Giá tín phiếu bán ra khi phát hành được tính theo công thức sau:
 P= F/(1+rT/365)
Trong đó:
P là giá tín phiếu kho bạc bán ra
F là mệnh giá tín phiếu kho bạc
r là lãi suất tín phiếu kho bạc trúng thầu (%/năm)
T là kỳ hạn của tín phiếu
365 là số ngày trong năm.

2)Thương phiếu
a/ Sự ra đời và định nghĩa về thương phiếu:
   Trong thực tế,khi có sự khác biệt về chu kì sản xuất của các doanh nghiệp,nên việc phân bổ nguồn vốn(thừa hoặc thiếu) ở các doanh nghiệp là khác nhau.Trong điều kiện thành phẩm của doanh nghiệp thừa vốn lại là nguyên vật liệu  của doanh nghiệp thiếu vốn,nếu quan hệ mua bán chịu được thực hiện trong một thời hạn nhất định thì cả 2 bên đều có lợi.
    Và để đảm bảo người mua chịu trả nợ đúng hạn bên cạnh sự tin tưởng,người bán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý,và lúc này thương phiếu ra đời dựa trên cơ sở mua bán chịu giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
     Một cách định nghĩa chính xác và ngắn gọn thì thương phiếu là giấy nhận nợ ngắn hạn do các doanh nghiệp lớn phát hành.

b/Tính chất của thương phiếu:
_Tính trừu tượng:trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên nhân phát sinh khoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền phải trả,thời hạn trả tiền và người trả tiền.
_Tính bắt buộc:Quy định người trả tiền phải thanh toán cho người thụ hưởng đúng hạn,không được phép từ chối hoặc trì hoãn việc trả tiền.
_Tính lưu thông:Thương phiếu được chuyển nhượng từ người thụ hưởng sang người khác bằng phương pháp ký hậu,nó có thể chuyển hóa ra tiền khi mang đến ngân hàng chiết khấu hoặc cầm cố.Tính chất này khiến thương phiếu trở thành một loại phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gian hiệu lực và mệnh giá thương phiếu.

c/Mục đích phát hành thương phiếu:
    Khi các doanh nghiệp phát hành thương phiếu tài trợ cho nhu cầu vốn tạm thời để dáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

d/Cách thức phát hành thương phiếu:
_Trực tiếp:Thông qua hoạt động mua bán chịu hàng hóa.trong trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu mua hàng nhưng chưa có khả năng thanh toán ngay,nếu người bán hàng hóa (là doanh nghiệp) chấp nhận bán chịu thì doanh nghiệp mua sẽ phát hành thương phiếu trực tiếp cho người bán chịu.Người sở hữu thương phiếu có thể bán lại khi có nhu cầu vốn.
_Gián tiếp:thông qua người môi giới.Trong trường hợp người bán hàng không chấp nhận bán chịu doanh nghiệp có thể thông qua ngân hàng bảo lãnh để phát hành thương phiếu.
   Việc phát hành thương phiếu phải tuân thủ theo pháp luật để đảm bảo an toàn khi sử dụng.

e/Ưu điểm và nhược điểm của thương phiếu:
      *Ưu điểm:
_Nhờ vào tính chất lưu thông,thương phiếu trở thành công cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt,tiết kiệm tiền mặt và góp phần ổn định tiền tệ
_Là cơ sở pháp lý cho hoạt động mua bán chịu,bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể.
_Thông qua nghiệp vụ bảo lãnh và thu hộ thương phiếu sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình
*Nhược điểm:
_Do tính trừu tượng của thương phiếu sẽ dẫn tới tình trạng 2 doanh nghiệp thông đồng nhau tạo ra thương phiếu khống để mang tới ngân hàng xin chiết khấu.
_Khó có thể mở rộng quy mô và thời gian mua bán chịu hàng hóa trong trường hợp nhu cầu mua chịu quá lớn và thời gian quá lâu
_Quan hệ mua bán chịu này chỉ có thể phát sinh giữa những doanh nghiệp tín nhiệm,có giao dịch thường xuyên với nhau.
f/Thực trạng và giải pháp cho vấn đề sử dụng thương phiếu ở Việt Nam:
*Thực trạng:
_Khi đất nước ta phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường thì thương phiếu và luật về thương phiếu mới được đề cập tới.Qua đó hình thành sơ bộ khung pháp lý cho việc phát hành và sử dụng thương phiếu.Tuy nhiên,việc xây dựng và ban hành chưa có thực tiễn nên bộc lộ một số bất cập:chưa đầy đủ,chua đồng bộ,chưa khả thi,chưa phù hợp với thực tiễn.
_Trong quan hệ mua bán trong nước,các doanh nghiệp VN chưa sử dụng thương phiếu làm công cụ thanh toán thường xuyên,các ngân hàng chưa có đủ điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn dưới hình thức chiết khấu thương phiếu.
_Ngân hàng nhà nước vẫn chưa có thông tư hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới thương phiếu.
_Pháp lệnh thương phiếu còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên tính khả thi vẫn còn kém.
*Giải pháp:
_Nhanh chóng tạo dựng một hành lang pháp lý cho sự tồn tại và thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu được an toàn,thuận lợi
_Tuyên truyền,phổ biến,thảo luận về lợi ích của thương phiếu đến các doanh nghiệp
_Nhà nước cần có những ưu đãi hợp lý cho các doanh nghiệp cũng như các tổ chức tín dụng tham gia vào quan hệ thương phiếu.
_Nâng cao hiệu lực của trung tâm tín dụng để có thể cung cấp chính xác và kịp thời năng lực chi trả,uy tín của các doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu,đảm bảo quyền lợi của người hưởng thụ.
3, Chứng chỉ tiền gửi
a, Khái niệm 
Chứng chỉ tiền gửi do các ngân hàng phát hành ra để huy động vốn trên thị trường với thời hạn và mệnh giá được ấn định trước.
- Chứng chỉ tiền gửi là văn bản do ngân hàng phát hành để chứng nhận rằng người sở hữu văn bản đã gửi tiền vào ngân hàng. Chứng chỉ tiên gửi thực chất là lời hứa trả một lượng tiền nhất định cho người sở hữu nó vào một thời điểm nhất định trong tương lai.
-Được phát hành khi các ngân hàng cần vốn để dồn vốn vào một mục tiêu đầu tư nào đó.
b,Lịch sử ra đời
-Chứng chỉ tiền gửi áp dụng lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1961, sau đó được lưu hành ở Anh. 
-Tại Việt Nam, chứng chỉ tiền gửi mới chỉ xuất hiện những năm gần đây và chưa được phổ biến rộng rãi.
c,Quyền lơi của chủ sở hữu 
Được hưởng lãi trên số tiền đã mua
Được quyền cho, tặng, chuyển nhượng theo quy định của pháp luật và tổ chức phát hành
Các quyền lợi khác do tổ chức phát hành quy định.
d,Các loại chứng chỉ tiền gửi 
Chứng chỉ tiền gửi ghi danh
Chứng chỉ tiền gửi vô danh
Chứng chỉ tiền gửi ghi sổ 

e,Ưu và nhược điểm của chứng chỉ tiền gửi
*Sự giống nhau giữa chứng chỉ tiền gửi và gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Ở cả hai hình thức, Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng. Sau khi hết kỳ hạn, ngân hàng có nghĩa vụ trả cho khách hàng tiền gốc và tiền lãi (tiền lãi này tương ứng với thời hạn gửi)
- Lãi suất không thay đổi trong suốt thời gian gửi
- Các mức lãi suất thay đổi theo từng thời hạn gửi: 1,3, 6 tháng…
- Đều là hình thức tiết kiệm an toàn 
*Ưu điểm của chứng chỉ tiền gửi so với gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ huy động vốn mới so với huy động tiền gửi tiết kiệm vốn đã quen thuộc từ lâu. Có thể nói tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là một nguồn vốn bảo đảm thường xuyên của ngân hàng, người tiết kiệm có thể gửi tiền vào ngân hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Trong khi đó chứng chỉ tiền gửi (thường là ngắn hạn) chỉ được ngân hàng phát hành theo từng đợt, một đợt kéo dài khoảng 2 tháng, do nhu cầu vốn đặc biệt của ngân hàng hay do nhu cầu cạnh tranh vốn giữa các ngân hàng với nhau. 

Do đó trong mỗi đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi, để thu hút được sự chú ý của khách hàng cũng như tăng thêm tính hấp dẫn của CDs, nâng cao hiệu quả của đợt phát hành, các ngân hàng thường phát hành chứng chỉ tiền gửi kèm với một số ưu đãi cũng như lợi ích hơn hẳn so với tiền gửi tiết kiệm như sau: 
- Lãi suất hấp dẫn: Lãi suất chứng chỉ tiền gửi thường cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm có cùng kỳ hạn.

VD: Chứng chỉ tiền gửi dài hạn của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV phát hành đợt I/2009 có lãi suât đối với các chứng chỉ trên 1 năm là 8,2-8,6%/năm; trong khi đó lãi suất tiền gửi có kỳ hạn của ngân hàng này tại cùng thời điểm với cùng kỳ hạn là 7,8-8,4%/năm.

Ngân hàng TMCP quân đội MB, đợt phát hành đầu tháng 8 vừa qua mức lãi suất của chứng chỉ tiền gửi cao hơn lãi suất tiền gửi thông thường từ 0,05 – 0,15%

Trong trường hợp lãi suất chứng chỉ tiền gửi có cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thì các ngân hàng lại đưa ra các hình thức khuyến mãi, bốc thăm trúng thưởng thu hút không ít khách hàng mua chứng chỉ tiền gửi.

VD: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) ngày 20.8.09 phát hành “chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn dự thưởng 2009” tại hơn 2.000 chi nhánh trên toàn quốc. Mệnh giá tối thiểu 1 triệu đồng, kỳ hạn gửi năm tháng lãi suất 8%/năm, bảy tháng 8,3%, 12 tháng lãi 8,6%.
Tại phòng giao dịch Agribank Lê Lợi, sau khi so sánh thấy mức lãi suất chứng chỉ tiền gửi dự thưởng kỳ hạn 5 – 7 tháng chỉ 8 – 8,3%/năm, trong khi lãi suất tiết kiệm thông thường ngân hàng áp dụng cho kỳ hạn sáu tháng lên đến 8,4%/năm, một số khách hàng đã chọn cách gửi thông thường.
“Tuy nhiên, không ít người tỏ ra quan tâm đến chương trình quay số trúng thưởng và đã chấp nhận mức lãi suất thấp hơn để nhận phiếu dự thưởng”

 Hạn chế của chứng chỉ tiền gửi
Cũng như tiền gửi có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi sẽ được Ngân hàng lên kế hoạch sử dụng theo thời hạn đã định. Do đó nếu khách hàng có nhu cầu về vốn khi chứng chỉ tiền gửi chưa đáo hạn (tức là chưa hết hạn) thì:
- hoặc khách hàng phải cầm cố “giấy tờ có giá” này để vay vốn và tất nhiên, lãi suất cho vay lại sẽ cao hơn lãi suất mà ngân hàng trả cho người mua. Như vậy, lợi tức cao của giấy tờ có giá sẽ giảm đi rất nhiều nếu khách hàng thực hiện việc “cầm cố”.
- hoặc nếu ngân hàng cho phép thì khách hàng được quyền thanh toán trước hạn với lãi suất bị giảm đi đáng kể:
VD: BIDV, đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi đợt II/2009, cho phép người mua được thanh toán trước hạn với lãi suất rút trước hạn căn cứ thời gian thực gửi như sau:

Có thể thấy theo cách nào thì người mua nếu có nhu cầu vốn trước hạn đều không được hưởng mức lãi cao như ban đầu, ngược lại lãi thu được còn thấp hơn gửi có kỳ hạn.
Do đó mặc dù có lãi suất cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm cùng kỳ hạn, nhưng người mua cần tính toán kỹ, chỉ nên mua khi đã kế hoạch hoá được việc sử dụng vốn của mình.
Đặc biệt, người mua nên nắm rõ mức lãi suất cho vay nếu ngân hàng quy định chỉ có thể rút vốn bằng cách cầm cố giấy tờ có giá để vay lại tiền hoặc mức lãi suất thanh toán trước hạn nếu được phép thanh toán trước.
4,Chấp phiếu ngân hàng
a.Khái niệm
Là một loại thương phiếu được dùng chủ yếu trong thương mại quốc tế, xác nhận một khoản nợ phải thanh toán vào một thời điểm nhất định trong tương lai đã được bảo lãnh thanh toán bởi ngân hàng chấp nhận.( tài liệu giảng dạy của hvnh)
 Là giấy do 1 công ty phát hành, bảo đảm rằng 1 ngân hàng sẽ thanh toán vô điều kiện 1 khoản tiền nhất định vào 1 thời điểm nhất định trong tương lai cho người nắm giữ giấy này.( Ts Lê vũ Nam – GV ĐHQG TP.HCM ). 
Là một loại hối phiếu do công ty phát hành và được ngân hàng chấp nhận bằng cách đánh dấu “ đã chấp nhận “ lên hối phiếu.( Theo wikipedia ).

b.Bản chất của chấp phiếu
-  Có thể hiểu rằng, đó là một cam kết trong đó ngân hàng chấp nhận thanh toán một số tiền vào một ngày xác định trong tương lai.
 - Trong các giao dịch mua bán chịu, khi người bán không tin vào khả năng thanh toán của người mua, họ sẽ yêu cầu người mua phải có đảm bảo thanh toán từ các ngân hàng có uy tín
-   Khi ngân hàng chấp nhận bảo lãnh cho khoản thanh toán, nó cho phép người bán ký phát chấp phiếu đòi tiền ngân hàng và ngân hàng sẽ đóng dấu chấp nhận trả tiền lên tờ chấp phiếu đó. Như vậy, người trả tiền chấp phiếu bây giờ không phải người mua nữa mà là ngân hàng. Do vậy, người bán được đảm bảo về khả năng thanh toán của tờ chấp phiếu.

c.Đặc điểm của chấp phiếu
-   Do các công ty phát hành và được các ngân hàng đảm bảo thanh toán.
-   Để được ngân hàng kí chấp nhận vào tờ hối phiếu, người mua phải gửi vào ngân hàng một phần hay toàn bộ số tiền của tờ chấp phiếu hoặc được ngân hàng đồng ý cho vay để thanh toán chấp phiếu.
-   Những người sở hữu chấp phiếu có thể đem bán chúng trên thị trường tiền tệ với giá chiết khấu để thu tiền mặt ngay khi cần vốn gấp.
-   Ngân hàng sẽ thu từ người mua một khoản phí đảm bảo thanh toán.
-   Các chấp phiếu ngân hàng này được sử dụng khá phổ biến rong lĩnh vực xuất, nhập khẩu.

d. Ưu và nhược điểm của chấp phiếu
Ưu điểm: 
Lãi suất tương đối thấp, ít biến động 
Có độ rủi ro thấp.
Là công cụ lưu hoạt và có tính thanh khoản cao.
Nguồn cung cấp với chi phí thấp và biết trước.
Quay vòng nhanh vì có thể sử dụng để chiết khấu và tái chiết khấu.
Việc phát hành chấp phiếu không chịu quy định về dự trữ bắt buộc.
 Nhược điểm:
Rủi ro thanh khoản.
Rủi ro tín dụng khi cả ngân hàng và công ty đều không có khả năng thanh toán nợ
5,Hợp đồng mua lại( REPO )
a.Khái niệm
Là một khoản vay ngắn hạn được đảm bảo các chứng khoán ngắn hạn, thường là tín phiếu kho bạc. Các ngân hàng khi thiếu vốn sẽ kí hợp đồng mua lại với khách hàng theo nội dung ngân hàng bán cho khách hàng một lượng tín phiếu và cam kết mua lại với giá cao hơn vòa một thời điểm nhất định trong tương lai. 
Hợp đồng mua lại thực tế là những món vay ngắn hạn (thường với kỳ hạn thanh toán ít hơn 2 tuần lễ) trong đó các tín phiếu kho bạc được dùng làm vật bảo đảm một tài sản có mà người cho vay nhận được nếu người đi vay không thanh toán được nợ. Hợp đồng mua lại hoàn toàn là một khám phá mới đây (1969) trong thị trường tài chính. Hợp đồng mua lại này là một nguồn vốn quan trọng đối với các ngân hàng (trên 140 tỉ đôla), và người cho vay quan trọng nhất ở thị trường này là các công ty lớn
b.Các giao dịch của hợp đồng mua lại
-   REPO gồm 2 giao dịch :
          +Bán CK kèm theo cam kết mua CK vào một thời điểm trong tương lai có thể theo cùng một mức giá bằng một thời điểm nào đó trong tương lai và người bán cam kết trả cho người mua một mức lãi suất nhất định 
          +Mua CK nhưng đưa ra điều kiện người bán phải mua lại CK trong tương lai, người mua nhận lại tiền gốc cộng với lãi suất nhất định tại một thời điểm nào đó trong tương lai
c. Điều kiện để công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ
          + Phát hành theo quy định chặt chẽ như khi có quy định của nhà nước, kho bạc mới phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành từng đợt. 
          + Các chứng từ có giá phải còn thời hạn thanh toán chưa đến kỳ đáo hạn, các hàng hóa lưu thông trên TTTT có độ thanh toán cao, rủi ro thấp, chủ thể phát hành chủ yếu là các chủ thể có độ tín nhiệm

6,Đô la châu Âu 
a.Khái niệm
Là khoản tiền gửi bằng ngoại tệ (thường là đô la) của dân bản địa tại ngân hàng Mỹ tại nước sở tại . Nói cách khác đô la châu Âu là những đồng đô la Mỹ do các ngân hàng ngoại quốc ở bên ngoài nước Mỹ hoặc những chi nhánh của ngân hàng nước Mỹ ở ngoại quốc nắm giữ.

b.Đặc điểm
Trước đây các khoản tiền gửi này chủ yếu xuất hiện ở các nước châu Âu , hiện nay , khoản tiền gửi này xuất hiện ở mọi quốc gia nơi có ngân hàng Mỹ mở chi nhánh  tại quốc gia đó .
Ví dụ : Ở Việt Nam hiện nay Citibank Việt Nam huy động đôla Mỹ tại thị trường Việt Nam với mục tiêu là huy động vốn đầu tư cho công ty mẹ 
Với tư cách là 1 công cụ của thị trường tiền tệ, đô la Châu Âu được kinh doanh khắp thế giới, tạo ra thị trường Đôla Châu Âu với trung tâm là London, Hongkong, Singapore, Tokyo…
Tiền gửi Đôla Châu Âu có thời hạn rất đa dạng, từ qua đêm tới 5 năm, nhưng hầu hết tiền gửi Đôla Châu Âu có thời hạn 6 tháng hoặc ít hơn 
Lãi suất Đôla Châu Âu dựa trên lãi suất Libor tại London.
Các ngân hàng thương mại sử dụng Đôla Châu Âu để điều chỉnh trạng thái vốn khả dụng của mình.Việc giao dịch Đôla Châu Âu được thực hiện thông qua hệ thống ghi sổ.
Các ngân hàng Mỹ có thể vay những món tiền này khi họ cần vốn
Đồng đô la châu Âu ngày nay đã trở thành nguồn vốn ngắn hạn quan trọng đối với các Ngân hàng Mỹ (năm 1998 là trên 100 tỷ USD)

7, Cổ phiếu
a.Khái niệm 
Là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với 1 phần vốn cổ phần tổ chức phát hành.

b.Phân loại cổ phiếu
*Cổ phiếu phổ thông:
     Là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty và xác nhận cho phép cổ đông được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty. Cổ phiếu phổ thong có lợi nhuận biến đổi theo lợi nhuận của công ty 
Đặc điểm:
Là loại cổ phiếu có thu nhập phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của công ty. Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được tham gia họp Đại hội đồng cổ đông và được bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng nhất của công ty, được quyền bầu cử và ứng cử vào Hội đồng Quản trị của công ty.
Cổ phiếu của công ty không có thời hạn hoàn trả, vì đây không phải là khoản nợ đối với công ty.
Cổ đông được chia phần giá trị tài sản còn lại khi thanh lý công ty sau khi công ty đã thanh toán các khoản nợ và thanh toán cho các cổ đông ưu đãi.
Người góp vốn vào công ty không được quyền trực tiếp rút vốn ra khỏi công ty, nhưng được quyền chuyển nhượng sở hữu cổ phần dưới hình thức bán lại cổ phiếu hay dưới hình thức quà tặng hay để lại cho người thừa kế. Chính điều này đã tạo ra tính thanh khoản cho cổ phiếu công ty, đồng thời cũng hấp dẫn nhà đầu tư.
Được quyền ưu tiên mua cổ phiếu khi công ty phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn.
Được quyền triệu tập đại hội đồng cổ đông bất thường theo luật định.
Cổ đông thường cũng phải gánh chịu những rủi ro mà công ty gặp phải, tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trong phạm vi số lượng vốn góp vào công ty.
*Cổ phiếu ưu đãi :
     Là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong một công ty, đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông phổ thông. 
Cổ phiếu ưu đãi lợi nhuận được ấn định trước
*Cổ phiếu quỹ :
     Là cổ phiếu được giao dịch trên thị trường và được chính tổ chức phát hành mua lại nguồn vốn của mình
*Cổ phiếu chưa phát hành
    Là loại cổ phiếu mà công ty chưa bao giờ bán ra cho các nhà đầu tư trên thị trường.
*Cổ phiếu đã phát hành
Là cổ phiếu mà công ty được bán ra cho các nhà đầu tư trên thị trường và công ty đã thu về được toàn bộ số tiền bán cổ phiếu đó. 
*Cổ phiếu đang lưu hành 
Là cổ phiếu hiện đang lưu hành trên thị trường và do các cổ đông đang nắm giữ

c. Đặc điểm của cổ phiếu
Tính thanh khoản cao :Cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt dễ dàng.Tuy nhiên tính thanh khoản của cổ phiếu phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành
-mối quan hệ cung - cầu trên thị trường chứng khoán
Tính lưu thông : Tính lưu thông khiến cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sư, nếu như tính thanh khoản giúp cho chủ sở hữu cổ phiếu chuyển cổ phiếu thành tiền mặt khi cần thiết thì tính lưu thông giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được nhiều hoạt động như thừa kế tặng cho để thục hiện nghĩa vụ tài sản của mình.
Tính Tư bản giả 
Cổ phiếu có tính tư bản giả tức là cổ phiếu có giá trị như tiền. Tuy nhiên cổ phiếu không phải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằng tiền. Mệnh giá của cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu.

Tính Rủi ro cao 
Tính rủi ro phụ thuộc vào thông tin và tình hình phát triển, chính trị. Giá trị cổ phiếu luôn biến động theo các yếu tố này.

8, Trái phiếu 
a.Định nghĩa: là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với phần vốn nợ của tổ chức phát hành.

b.Phân loại
*Trái phiếu chính phủ: 
Định nghĩa: 
Là một loại chứng khoán nợ do chính phủ phát hành, trong đó ghi rõ mệnh giá, lãi suất, thời hạn trả nợ và nghĩa vụ trả n ợ của chính phủ đối với người sở hữu trái phiếu.  Bao gồm: tín phiếu kho bạc nhà nước, trái phiếu công ty, trái phiếu đầu tư, trái phiếu chính phủ quốc tế, công tái xây dựng tổ quốc…
Chức năng:   - Công cụ huy động vốn
Công cụ quản lý kinh tế 
Làm chuẩn mực cho các công cụ nợ khác.

Trái phiếu chính phủ là công cụ được nhà nước sử dụng để vay vốn từ công chúng nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước. Ngoài ra, trái phiếu chính phủ còn là một công cụ góp phần điều tiết thị trường tiền tệ trong những trường hợp cần thiết và kiềm chế lạm phát.

Trái phiếu chính phủ thường được coi là không có rủi ro bởi chính phủ có thể tăng thuế hoặc in thêm tiền mặt để chi trả trái phiếu đáo hạn. Một số ví dụ rất hiếm thấy khi chính phủ không thể thanh toán được nợ đó là cuộc khủng hoảng đồng rúp năm 1998 của chính phủ Nga.
Ở Hoa Kỳ, trái phiếu chính phủ mệnh giá bằng đôla là hình thức đầu tư tiền an toàn nhất. An toàn hay không có rủi ro là theo nghĩa rủi ro có thể không được thanh toán. Các rủi ro khác vẫn tồn tại nhưtỷ giá – là khi đồng nội tệ mất giá so với các ngoại tệ; rủi ro thứ hai là lạm phát – tiền gốc nhận lại khi đáo hạn giảm giá trị vì lạm phát vượt quá dự kiến. Nhiều chính phủ phát hành công trái điều chỉnh theo lạm phát để bảo vệ các nhà đầu tư trước rủi ro lạm phát.

Một ví dụ về công trái có rủi ro ở mức độ nhất định là công trái của các chính phủ chưa đủ năng lực hiệu quả cao để thực hiện chính sách tài chính. Bulgaria có nền kinh tế phụ thuộc vào kinh tế thế giới và các tổ chức kinh tế thế giới nhiều hơn là Hoa Kỳ vì thế, công trái dài hạn của nước này bị xếp hạng BBB+ bởi tổ chức Standard & Poor’s năm 2006. Chỉ sau năm 2004, một số trái phiếu và đặc biệt là trái phiếu ngắn hạn chính phủ của nước này mới được xếp hạng rủi ro A.

*Trái phiếu chính quyền địa phương
Định nghĩa:
Là một loại chứng khoán nợ do chính quyền địa phương phát hành, được chính phủ đảm bảo. chính quyền địa phương có trách nhiệm thanh toán gốc, lãi và các chi phí liên quan đến viecj phát hành, thanh toán trái phiếu.

Mục đích: huy động vốn cho các dự án, công trình thuộc nguồn vốn đầu tư của ngân sách địa phương đã ghi trong kế hoạch nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm.
 Vd:Trái phiếu đô thị Thành Phố Hồ Chí Minh là loại trái phiếu đầu tư được Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh phát hành nhằm huy động vốn để bổ sung vốn đầu tư phát triển theo kế hoạch hàng năm của Ngân Sách Thành Phố hoặc phát hành trái phiếu đô thị cho các công trình có nguồn thu
*Trái phiếu doanh nghiệp
Do các doanh nghiệp phát hành để huy động vốn trung và dài hạn trên thị trường nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh
Vd. Công ty Địa ốc NH Sài Gòn Thương Tín (Sacomreal) phát hành 99 tỉ đồng trái phiếu riêng lẻ có mệnh giá 1 tỉ đồng, kỳ hạn 18 tháng với lãi suất tháng đầu tiên 17%/năm 

9, Công cụ tài chính phái sinh
a.Khái niệm 
- Là công cụ xuất hiện từ những công cụ tài chính khác hoặc từ các giao dịch nào đó trên thị trường như hợp đồng kì hạn , hợp đồng tương lai , hợp đồng quyền chọn
- Công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đă có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.
b.Các loại công cụ phái sinh
* Quyền lựa chọn (Option)
- Khái niệm: Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định, và trong một thời gian nhất định.
Các hàng hoá cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai.
-  Những yếu tố cấu thành một quyền lựa chọn
+ Tên của hàng hoá cơ sở và khối lượng được mua theo quyền.
+Loại quyền (chọn mua hay chọn bán).
+Thời hạn của quyền.
+Mức giá thực hiện theo quyền.
- Những mức giá liên quan tới một quyền lựa chọn:
+ Giá thị trường hiện hành của loại hàng hoá cơ sở.
+Giá hàng hoá cơ sở thực hiện theo quyền.
+Giá quyền lựa chọn.

Ví dụ 1: Giá của một quyền chọn mua XYZ là 40.000 đồng, giá thị trường của XYZ là 42.000 đồng. Người giữ quyền có thể chiếm lấy 200.000 đ ngay tức thì bằng cách thực hiện quyền, tức là mua 100 cổ phần (mức giá được quyền ấn định) với tổng chi phí 4.000.000 đồng, cũng theo mức giá thực hiện theo quyền là 40.000 đ một cổ phần; sau đó bán ngay với giá thị trường, thu về 4.200.000 đ. Giá trị nội tại của quyền là 200.000 đ.

Mức phụ trội giá trị theo thời gian = giá quyền – giá trị nội tại = 400.000 đ - 200.000 đ = 200.000 đ

Người mua vẫn sẵn sàng trả phần phụ trội cho các quyền lựa chọn và họ nhận được nhiều lợi ích từ một quyền lựa chọn.
-. Ứng dụng của quyền lựa chọn:
+ Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ % lợi tức trên vốn đầu tư cao nhất.
VD2: Giả sử thị trường hiện nay của cổ phiếu XYZ là 42.000 VND/cổ phần, và bạn dự đoán sau nửa năm nữa, giá cổ phiếu XYZ sẽ tăng mạnh, lên tới 50.000 VND. Giả sử các quyền lựa chọn có liên quan đến giao dịch cổ phiếu XYZ được niêm yết, bạn có thể mua một quyền chọn mua cổ phiếu XYZ với giá 40.000 VND/cổ phần.

Trong vòng 6 tháng giá cổ phiếu XYZ tăng lên 50.000 VND/cổ phần. Bạn có thể buộc người bán giao 100 cổ phần XYZ cho bạn với giá 40.000 VND/cổ phần, sau đó bán chúng ra thị trường với giá 50.000 đồng.

Như vậy bạn đă tạo ra một lợi nhuận đáng kể. Trên thực tế bạn đă thu được lợi nhuận 60.000 đồng trên khoản đầu tư 40.000 đồng, vậy lợi suất là 150%, trong khoảng thời gian là 6 tháng.
+ Quyền lựa chọn được sử dụng để bảo vệ lợi nhuận
VD 3: Với XYZ đang có giá thị trường là 44.000 đồng, người sở hữu 100 cổ phần XYZ bán một quyền chọn mua XYZ 44.000 với giá quyền là 400.000 đồng.

Nếu giá thị trường của XYZ giảm xuống 40.000 đồng, người bán sẽ được bảo vệ trước khoản thua lỗ nhờ có 40.000 đồng nhận được từ việc bán quyền chọn. Nếu XYZ tiếp tục giảm giá thì đương nhiên người bán sẽ mất tiền. Như vậy khoản thu 40.000 đồng từ việc bán quyền lựa chọn tạo ra một sự bảo vệ cục bộ đối với tình trạng sụt giá.

Nếu trong 6 tháng tới giá XYZ vẫn giữ nguyên, quyền sẽ không được thực hiện. Khoản thu phụ trội 40.000 đồng là một thu nhập bổ sung trên tổng đầu tư.
- Quyền mua trước (right)
Quyền mua trước là một quyền lựa chọn mua có thời hạn rất ngắn, có khi chỉ vài tuần. Quyền này được phát hành khi các công ty tăng vốn bằng cách phát hành thêm các cổ phiếu thường. Quyền cho phép một cổ đông mua cổ phiếu mới phát hành với mức giá đã ấn định trong một khoảng thời gian xác định.

Loại quyền này thường được phát hành theo từng đợt, mỗi cổ phiếu đang lưu hành được kèm theo một quyền. Số quyền cần để mua một cổ phiếu mới được quy định tuỳ theo từng đợt phát hành mới.

Giá cổ phiếu ghi trên quyền thường là thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu. Giá của quyền tính bằng chênh lệch giữa giá thị trường hiện hành của cổ phần đang lưu hành và giá mua cổ phần mới theo quyền, chia cho số lượng quyền cần có để mua một cổ phần mới.

Ví dụ: cổ phiếu bán theo quyền (giá thực hiện) là 800.000 đồng/cổ phần, nhưng có giá thị trường là 1.000.000 đồng, nếu cứ 10 quyền được mua một cổ phần mới thì giá của quyền được xác định theo công thức:

Vr = P0 - Pn/r

Trong đó: Vr là giá trị của một quyền, P0 là giá thị trường của cổ phiếu đang lưu hành, Pn là giá thực hiện cổ phiếu mới và r là số quyền cần có để mua một cổ phiếu mới.

Vậy, giá quyền ở đây là Vr = (1.000.000 – 800.000)/10 = 20.000 đồng.

Nếu không muốn thực hiện quyền, cổ đông thường có thể bán quyền trên thị trường trong thời gian quyền chưa hết hạn. Giá quyền có thể lên xuống trong khoảng thời gian chào bán, tuỳ thuộc biến động giá thị trường của cổ phiếu.

.- Chứng quyền (warrants)
Chứng quyền là quyền cho phép mua một số cổ phần xác định của một cổ phiếu, với một giá xác định, trong một thời hạn nhất định. Quyền này được phát hành khi tiến hành tổ chức lại các công ty, hoặc khi công ty muốn khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ phiếu ưu đăi nhưng có những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có được một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường.
Đặc điểm:
Khác với quyền mua trước, chứng quyền có thời hạn dài hơn, do công ty đã phát hành công cụ cơ sở phát hành đồng thời với công cụ cơ sở. Khác với quyền lựa chọn (option), khi chứng quyền được thực hiện, nó tạo thành dòng tiền vào cho công ty và tăng thêm lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường.

Chứng quyền có thể được giao dịch tách rời với trái phiếu hay cổ phiếu mà nó đi kèm.

Các điều kiện của chứng quyền được ghi rõ trên tờ chứng chỉ: số cổ phiếu được mua theo mỗi chứng quyền (thường là 1:1); giá thực hiện cho mỗi cổ phiếu; tại thời điểm chứng quyền được phát hành, giá này bao giờ cũng cao hơn giá thị trường của cổ phiếu cơ sở, và giá đó có thể cố định, có thể được tăng lên định kỳ; và thời hạn của quyền, đa số trường hợp là 5 đến 10 năm.

- Hợp đồng kỳ hạn
Hợp dồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay.

Hàng hoá ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào; từ nông sản, các đồng tiền, cho tới các chứng khoán.

Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên tự thoả thuận với nhau, dựa theo những ước tính mang tính các nhân. Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hàng hoá có thể thay đôỉ, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đă kư kết trong hợp đồng. Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại do đă cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường.

- Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đã khắc phục được những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn, và thường được xem là một cách thức tốt hơn để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh.
*Những điểm khác biệt căn bản của hợp đồng tương lai so với hợp đồng kỳ hạn là:
-  Niêm yết trên sở giao dịch. Một giao dịch hợp đồng tương lai nói chung được xử lý trên một Sở giao dịch. Điểm này cho phép giá cả được hình thành hợp lý hơn, do các bên mua bán được cung cấp thông tin đầy đủ và công khai.
- Xoá bỏ rủi ro tín dụng. Trong các giao dịch hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giao dịch, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ biết về đối tác giao dịch của mình. Công ty thanh toán bù trừ sẽ phục vụ như một trung gian trong tất cả các giao dịch. Người bán bán cho công ty thanh toán bù trừ, và người mua cũng mua qua công ty thanh toán bù trừ. Nếu một trong hai bên không thực hiện được hợp đồng thì vẫn không ảnh hưởng đến bên kia.
- Tiêu chuẩn hoá. Các hợp đồng kỳ hạn có thể được thảo ra với một hàng hoá bất kỳ, khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ, theo thoả thuận chung giữa hai bên bán, mua. Tuy nhiên, các hợp đồng tương lai niêm yết trên sở giao dịch đòi hỏi việc giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước.
- Điều chỉnh việc đánh giá theo mức giá thị trường (Marking to market). Trong các hợp đồng kỳ hạn, các khoản lỗ, lãi chỉ được trả khi hợp đồng đến hạn. Với một hợp đồng tương lai, bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày. Trên thực tế, và không bên nào biết về đối tác của mình trong giao dịch, nên những người thua đều trả tiền cho công ty thanh toán bù trừ, và công ty này sẽ trả tiền cho những người thắng.

No comments:

Post a Comment